Lý Ông Trọng
Lý Ông Trọng, tên thật là Lý Thân, không rõ năm sinh năm mất, là một nhân vật có thật, song vào thời của ông không có văn bản ghi chép đầy đủ nên còn có các câu chuyện thêu dệt thêm. Di tích cổ thờ tự ông là Đình Chèm- Xã Thụy Phương- Bắc Từ Liêm- Hà Nội. Trong Đình có các bia đá ghi chép lại lịch sử và nhân vật, đồng thời thờ 2 pho tượng đồng lớn: một là của Thượng đẳng Thiên vương Lý Ông Trọng, pho tượng còn lại là của bà vợ, hiệu Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung (con gái của Tần Thủy Hoàng). Di tích Đình còn nguyên vẹn, kiến trúc rất đẹp do thợ tay nghề của nước Tần xây dựng. Theo đó, ông sống vào cuối đời Hùng Duệ Vương, đầu thời An Dương Vương. Tuy còn nhiều tranh cãi giữa sử liệu Việt Nam và Trung Quốc, nhân vật Lý Ông Trọng (tên thật là Lý Thân) vẫn được lưu truyền như một bậc anh hùng phi thường, người Việt đầu tiên làm quan lớn ở Trung Quốc và có công dẹp giặc. Câu chuyện về ông thường được kể lại với nhiều chi tiết huyền thoại, thể hiện sức mạnh và khí phách của người Giao Chỉ (Việt Nam cổ).
Lý Ông Trọng sinh ra tại làng Chèm vào cuối thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) hoặc đầu thời An Dương Vương (thế kỷ thứ III TCN). Ngay từ khi sinh ra, ông đã có một thân hình vạm vỡ, cao lớn khác thường, được mô tả là cao tới hai trượng ba thước (khoảng hơn 2 mét theo một số ước tính, hoặc hơn nữa theo truyền thuyết).
Thuở trẻ, ông là người dũng mãnh, khí chất phi phàm. Có lần, vì tính cách ngang tàng, ông đã phạm tội giết người đáng phải xử tử. Tuy nhiên, vua Hùng tiếc tài năng và sức vóc hiếm có của ông nên đã tha tội chết.
Sau sự kiện này, Lý Thân bỏ chức quan cũ (Bồ Chính quận Từ Liêm) và quyết chí học tập, tu dưỡng. Ông từng nói: "Đời ta phải được tự do như chim loan chim phụng, một lần bay là xa ngoài vạn dặm, đâu có phải để cho thiên hạ làm nhục dễ dàng?".
Đến thời vua An Dương Vương, khi Tần Thủy Hoàng đang có ý muốn thôn tính các nước phương Nam (trong đó có Âu Lạc), một số sách sử ghi chép rằng An Dương Vương đã chủ động hoặc buộc phải cống hiến Lý Thân cho vua Tần.
Tần Thủy Hoàng thấy Lý Thân có thân hình khổng lồ, khí chất oai dũng thì vô cùng mừng rỡ, trọng dụng ông ngay lập tức. Ông được phong làm Tư Lệ Hiệu Úy, một chức quan lớn trong triều đình nhà Tần. Kế đó, vì nạn Hung Nô quấy nhiễu biên giới phía Bắc (vùng Lâm Thao), Tần Thủy Hoàng đã cử Lý Thân đem quân ra trấn giữ.
Với tài dụng binh và vóc dáng uy nghi, Lý Thân đã khiến quân Hung Nô phải kinh hồn bạt vía, không dám xâm phạm bờ cõi. Uy danh của ông vang lừng khắp nơi. Vua Tần vô cùng kính nể, phong thêm tước Phụ Tín Hầu và thậm chí còn gả công chúa cho ông. Từ đó, người ta gọi ông là Lý Ông Trọng (Ông Trọng là cách gọi tôn kính người cao lớn, vĩ đại).
Sau nhiều năm làm quan xứ người , Lý Ông Trọng xin phép vua Tần được trở về quê nhà thăm viếng. Ông vui mừng trở về làng Chèm, đoàn tụ với đình. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau khi ông về nước, quân Hung Nô lại thấy vắng bóng vị tướng khổng lồ nên tái diễn quấy phá biên giới nhà Tần.
Tần Thủy Hoàng liền sai sứ sang nước ta để đón ông quay lại trấn thủ Lâm Thao. Nhận thấy mình tuổi cao, không muốn bôn ba xứ người, Lý Ông Trọng trốn biệt vào rừng, vua Thục phải nói với sứ giả rằng ông đã chết. Tần Thủy Hoàng không tin, dọa sẽ đem quân tấn công, đòi tìm được xác của Lý Ông Trọng mới tin đã chết. Cuối cùng, không còn cách nào khác, ông phải tự tử để được chết trên mảnh đất quê hương.
Sau khi nhìn thấy xác, biết chắc Lý Ông Trọng đã chết, Tần Thủy Hoàng cho đúc pho tượng đồng khổng lồ hình Lý Ông Trọng, đặt ở cửa Tư Mã, kinh đô Hàm Dương. Mỗi khi thấy quân Hung Nô từ xa kéo đến, hàng chục binh lính Tần lại dùng sức đẩy cho bức tượng cử động. Từ xa, quân Hung Nô lầm tưởng Lý Ông Trọng còn sống nên sợ hãi bỏ chạy tháo thân, không dám bén mảng tới nước Tần nữa. Bức tượng này đã hoàn thành sứ mệnh trấn giữ biên cương vô hình, trở thành biểu tượng cho sức mạnh và sự uy dũng của một người Việt lưu danh sử sách.
Đền thờ Lý Ông Trọng được xây dựng từ thời Bắc Thuộc (từ năm 603 đến năm 938) ở Thị Điềm, Thụy Phương (phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội ngày nay). (Ảnh)
Để tưởng nhớ Lý Ông Trọng, hằng năm ba làng: Thụy Phương, Hoàng Mạc và Liên Mạc tổ chức lễ hội đền Chèm từ 14 đến 16 tháng 5 âm lịch.


