Lý Thái Tổ
Lý Công Uẩn là tên thật của vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế sáng lập nên nhà Lý trong lịch sử nước ta. Lý Công Uẩn sinh ngày 08/3/974 - mất 31/3/1028. Ông trị vì đất nước dưới triều Lý từ năm 1009 đến năm 1028

Lý Công Uẩn
Lý Công Uẩn là tên thật của vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế sáng lập nên nhà Lý trong lịch sử nước ta. Lý Công Uẩn sinh ngày 08/3/974 - mất 31/3/1028. Ông trị vì đất nước dưới triều Lý từ năm 1009 đến năm 1028.
Về thân thế của Lý Công Uẩn, theo ghi chép tại Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục: “Công Uẩn, người làng Cổ Pháp, thuộc Bắc Giang, tư chất thông sáng, hình dáng tuấn tú khác thường. Khi còn nhỏ, thường học nhà sư Vạn Hạnh. Sư Vạn Hạnh lấy làm lạ, nói rằng: “Người này không phải tầm thường, mai sau tất làm chúa cả nước”. Kịp khi lớn lên, Công Uẩn khảng khái, có chí lớn”.
Trước khi trở thành vua Lý Thái Tổ. Ông chính là một vị tướng của nhà Tiền Lê. Năm 1009, vua Lê Long Đĩnh qua đời ở tuổi 35. Con nối ngôi của Lê Long Đĩnh khi ấy còn rất nhỏ. Quan chi nội Đào Cam Mộc cùng sư Vạn Hạnh đã tôn Lý Công Uẩn lên làm vua. Ngày 21 tháng 11 năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, mở ra một triều đại mới của nước Đại Cồ Việt, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình).
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Hoa Lư là kinh đô của nước Đại Cồ Việt dưới hai triều Đinh (968 - 979) và Tiền Lê (980 - 1009), nằm ở vùng núi non hiểm trở với địa thế “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh thắng, thoái có thể bảo vệ). Tuy nhiên đến năm 1010 Lý Thái Tổ cảm thấy vùng đất này chật hẹp, không thể mở mang bờ cõi để làm nơi đô hội. Vì vậy nên ngài đã quyết định dời kinh đô về Đại La (thành Thăng Long). Quyết định dời kinh đô từ vùng núi non hiểm trở đến khu vực đồng bằng cho thấy tầm nhìn và bản lĩnh của Lý Thái Tổ rất cao, đưa ông trở thành vị vua chói sáng nhất trong các vị vua tài giỏi của lịch sử phong kiến nước Nam.
Bản khắc “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ năm 1010 trong Đại Việt sử ký toàn thư là bản cổ nhất về “Chiếu dời đô” được tìm thấy tính đến thời điểm hiện tại. Toàn bộ bản mộc “Chiếu dời đô” có 214 chữ (không kể phần chú thích): “Xưa, nhà Thương đến dời Bàn Canh 5 lần dời đô; nhà Chu đến đời Thành Vương 3 lần dời đô; đâu phải các vua thời Tam đại đều theo ý riêng của mình mà tự tiện dời đô xằng bậy. Làm như thế cốt là để mưu nghiệp lớn, chọn ở nơi chính giữa, dựng kế cho con cháu muôn đời; trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện lợi thì dời đổi, cho nên vận nước dài lâu, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ của Thương, Chu, cứ chịu đóng đô ở yên nơi đây, đến nỗi vận thế không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không tươi tốt. Trẫm rất đau lòng, không thể không dời đổi. Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực đất trời, được thế rồng chầu - hổ phục, chính giữa Nam - Bắc - Đông -Tây, tiện nghi núi sau - sông trước. Vùng này, mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa; dân cư không phải chịu khổ vì thấp trũng, tối tăm; muôn vật hết sức tốt tươi phồn thịnh. Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ sao?”
Trị vì được 19 năm, vua Lý Thái Tổ được nhận định là một vị vua giỏi của triều Lý mở nên triều đại Lý phồn thịnh trong suốt thời gian hơn 200 năm.Ngoài những công lao to lớn đối với nhà Lý trên phương diện kinh tế, văn hóa, củng cố tư thế độc lập tự chủ dân tộc, ông đã có đóng góp nổi bật mang ý nghĩa lịch sử đó là công cuộc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long,mở ra một thời kỳ phát triển thịnh vượng lâu dài của vương triều Lý.Thêm vào đó, nhà vua còn tổ chức được một công trình xây dựng lớn gồm 8 điện và 3 cung, đó là dáng vật chất đầu tiên của Thăng Longngàn năm tuổi - nơi lưu giữ nền văn vật nổi tiếng của cả nước và trở thành biểu tượng hòa bình của thế giới.


