LÝ THƯỜNG KIỆT
Vị Thái úy tài lược với bản tuyên ngôn thần bên dòng Như Nguyệt
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước thời kỳ văn minh Đại Việt, Thái úy Việt Quốc công Lý Thường Kiệt là một nhà quân sự, nhà chính trị kiệt xuất của vương triều Lý. Bằng tư duy chiến lược chủ động độc đáo và cuộc kháng chiến chống quân Tống thắng lợi vang dội (1075–1077), ông đã bảo vệ vững chắc nền độc lập non trẻ của quốc gia Đại Việt và để lại áng thơ thần bất hủ khẳng định chủ quyền lãnh thổ.
Theo ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, Quyển III – Kỷ nhà Lý) và tư liệu tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Lý Thường Kiệt (1019–1105) tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, quê ở phường Thái Hòa, thành Thăng Long (nay thuộc Hà Nội). Ông xuất thân trong một gia đình võ quan, từ nhỏ đã chăm đọc sách binh thư, giỏi cưỡi ngựa bắn cung. Trải qua ba triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông, nhờ lập nhiều công lớn nên ông được ban quốc tính họ Lý và giữ chức Phụ quốc Thái úy, nắm quyền tể tướng điều hành việc quân quốc trọng sự.
Những năm 1072–1075, nhà Tống ở phương Bắc ráo riết tập kết lương thảo và quân lính tại các châu Khâm, Liêm, Ung sát biên giới nước ta nhằm chuẩn bị cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Trước nguy cơ đất nước bị tiến đánh, Lý Thường Kiệt đã nêu cao tư tưởng chiến lược chủ động: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Cuối năm 1075, ông thống lĩnh 10 vạn quân thủy bộ bất ngờ tiến công tiêu diệt tận gốc các căn cứ hậu cần của nhà Tống tại Ung Châu rồi nhanh chóng rút quân về nước xây dựng phòng tuyến.
Đầu năm 1077, đại quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy tràn sang nước ta nhưng bị chặn đứng trước phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) dài hàng chục dặm được đắp bằng đất kết hợp lũy tre dày đặc. Để củng cố tinh thần tướng sĩ trong những đêm cầm cự quyết liệt, Lý Thường Kiệt đã cho người vào đền thờ hai anh em Trương Hống, Trương Hát bên bờ sông, ngâm vang bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”: khẳng định sông núi nước Nam vua Nam ở, giới phận đã định rõ tại sách trời, kẻ thù xâm phạm tất chuốc lấy bại vong.
Bài thơ thần vang lên giữa đêm khuya đã khích lệ quân sĩ Đại Việt khí thế dâng trào, mở cuộc phản công vượt sông trong đêm xuân năm 1077 tiêu diệt hơn một nửa quân Tống. Giữa lúc nắm chắc phần thắng, Lý Thường Kiệt lại chủ động cử sứ giả sang “dùng biện sĩ bàn hòa”, mở lối thoát danh dự cho Quách Quỳ rút quân về nước để “không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tông miếu”. Tháng 6 năm Ất Dậu (1105), ông qua đời ở tuổi 86, được triều đình truy tặng chức Kiểm hiệu Thái sư Bình chương Quân quốc Trọng sự, tước Việt Quốc công.
Câu chuyện về Thái úy Lý Thường Kiệt để lại bài học vô giá trong kho tàng lịch sử dân tộc: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ý chí kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và nghệ thuật ngoại giao mềm dẻo vì hòa bình lâu dài. Từ hào khí dòng sông Như Nguyệt năm xưa, thế hệ hôm nay càng thêm khắc cốt ghi tâm trách nhiệm giữ gìn từng tấc đất, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
• Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển III – Kỷ nhà Lý (Triều vua Lý Thánh Tông & Lý Nhân Tông). Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, chuyên mục “Nhân vật lịch sử”. https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/2003/nhan-vat-lich-su
• Chuyên trang Lịch sử Việt Nam – Dòng Lịch Sử, mục “Nhân vật lịch sử”. https://donglichsu.com/#section=people


