Lý Tự Trọng (4)
Sinh ra năm 1914 trên đất Thái Lan trong một gia đình Việt kiều yêu nước quê gốc Hà Tĩnh, anh Lý Tự Trọng, tên thật là Lê Hữu Trọng, đã sớm thấm đẫm nỗi niềm của những người con xa xứ hướng về cố quốc. Có lẽ định mệnh đã chọn anh trở thành người tiên phong khi mới 10 tuổi, anh được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) học tập và được chính Bác Hồ dìu dắt, đổi tên thành Lý Tự Trọng. Cái tên ấy như gửi gắm niềm tin về một trọng trách lớn lao. Tôi hình dung về một cậu bé với đôi mắt sáng, thông minh, l
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA LÝ TỰ TRỌNG
NGỌN LỬA TUỔI MƯỜI BẢY CHÁY MÃI VỚI THỜI GIAN
Trong dòng chảy bất tận của lịch sử dân tộc, có những cái tên khi nhắc đến không chỉ gợi lên sự kính trọng mà còn làm rung động sâu sắc trái tim của những con người trẻ tuổi. Với tôi, người anh hùng Lý Tự Trọng không chỉ là một cái tên hay xuất hiện trên biển hiệu trường học hay tên một con đường sầm uất giữa lòng thành phố,… mà anh còn là biểu tượng chói lọi nhất của "Thời hoa lửa" – thời kỳ mà máu và hoa cùng hòa quyện để dệt nên dải gấm vóc mang tên “Non song Việt Nam”. Câu chuyện về người đoàn viên đầu tiên ấy, người đã ngã xuống khi tuổi đời còn chưa tròn đôi mươi, luôn là một bản hùng ca bi tráng khiến tôi phải tự vấn lương tâm mỗi khi đối diện với chính mình.
Tôi thường tự hỏi, ở tuổi 17, tôi và bạn bè mình đang làm gì? Chúng tôi lo lắng về một bài kiểm tra điểm kém, buồn phiền vì một đôi giày không vừa ý hay chìm đắm trong những giấc mơ cá nhân về sự nghiệp và tiền tài…Thế nhưng, quay ngược thời gian về gần một thế kỷ trước, có một chàng trai trẻ mang tên Lý Tự Trọng, cũng ở cái tuổi "bẻ gãy sừng trâu" ấy, đã mang trong mình nỗi đau mất nước và khát vọng giải phóng dân tộc lớn lao hơn cả sinh mệnh.
Sinh ra năm 1914 trên đất Thái Lan trong một gia đình Việt kiều yêu nước quê gốc Hà Tĩnh, anh Lý Tự Trọng, tên thật là Lê Hữu Trọng, đã sớm thấm đẫm nỗi niềm của những người con xa xứ hướng về cố quốc. Có lẽ định mệnh đã chọn anh trở thành người tiên phong khi mới 10 tuổi, anh được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) học tập và được chính Bác Hồ dìu dắt, đổi tên thành Lý Tự Trọng. Cái tên ấy như gửi gắm niềm tin về một trọng trách lớn lao. Tôi hình dung về một cậu bé với đôi mắt sáng, thông minh, lanh lợi, sớm tiếp thu tư tưởng cách mạng, không phải qua sách vở lý thuyết khô khan mà qua thực tiễn đấu tranh đầy gian khổ.
Về nước hoạt động tại Sài Gòn – Chợ Lớn khi phong trào cách mạng đang bị đàn áp khốc liệt, anh đã phải làm công nhân bến tàu để che mắt địch, đảm nhận nhiều nhiệm vụ liên lạc vô cùng nguy hiểm. Đỉnh điểm của câu chuyện bi tráng ấy diễn ra vào ngày 8 tháng 2 năm 1931. Trong không khí ngột ngạt của Sài Gòn dưới gót giày thực dân, tại sân bóng đá Larégnère, các chiến sĩ cách mạng tổ chức mít tinh chớp nhoáng. Khi mật thám Pháp ập tới, tên thanh tra mật thám Le Grand hung hãn lao vào định bắt đồng chí Phan Bôi đang diễn thuyết. Trong giây phút "ngàn cân treo sợi tóc" ấy, không có chỗ cho sự do dự hay sợ hãi. Anh Trọng, người thanh niên nhỏ nhắn nhưng nhanh như sóc, đã rút súng bắn gục tên trùm mật thám để giải vây cho đồng đội. Tiếng súng ấy không chỉ là hành động tự vệ, nó là tiếng thét phẫn nộ của cả một dân tộc bị áp bức, là sự khẳng định đanh thép rằng người Việt Nam không bao giờ cúi đầu.
Anh bị bắt. Và chính từ đây, bản lĩnh của người cộng sản trẻ tuổi mới thực sự tỏa sáng rực rỡ nhất, khiến kẻ thù phải khiếp sợ còn hậu thế phải nghiêng mình. Sau khi bị thực dân Pháp bắt, Lý Tự Trọng bị đưa đi tra tấn và giam giữ lần lượt tại hai nơi là bốt Catinat và Khám lớn Sài Gòn. Dù bị tra tấn vô cùng dã man nhưng địch không khai thác được thông tin gì từ anh, chỉ nói tên anh là Nguyễn Huy. Giam cầm tra tấn ở Khám lớn Sài Gòn một thời gian không thu được kết quả, bọn chúng đưa anh ra xử án. Run sợ trước phong trào cách mạng, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương đã mở một phiên tòa đại hình để xử một chiến sĩ cộng sản Việt Nam chưa đầy 17 tuổi. Lý Tự Trọng đã bị kết án tử hình. Trong những ngày cuối cùng ở xà lim án chém, Lý Tự Trọng vẫn lạc quan yêu đời, tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng. Mặc dù bị xiềng xích nhưng hàng ngày anh vẫn tập thể dục, đọc Truyện Kiều, động viên các bạn trẻ nêu cao ý chí cách mạng. Khí phách hiên ngang của anh đã làm cho bọn cai ngục phải khâm phục và kinh ngạc, chúng gọi anh là “Ông Nhỏ”, “thật là con người gang thép”.
Câu chuyện xúc động nhất, và cũng là bài học lớn nhất mà anh để lại cho thế hệ tôi, chính là khoảnh khắc tại phiên tòa đại hình. Khi luật sư bào chữa xin bọn thực dân khoan hồng cho anh với lý do “Bị cáo chưa đến tuổi thành niên, chưa suy nghĩ chín chắn”, Lý Tự Trọng đã dõng dạc cất lời, gạt phăng sự thương hại ấy. Anh nói: ““Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác!”. Câu nói ấy như một lời tuyên ngôn đanh thép, xuyên qua thời gian, vọng đến tận ngày hôm nay. Nó khẳng định một chân lý: Tuổi trẻ không được định nghĩa bằng số năm sống trên đời, mà bằng độ sâu của nhận thức và lý tưởng cống hiến.
Ngày 21 tháng 11 năm 1931, Lý Tự Trọng bước lên máy chém. Thực dân Pháp hèn hạ đến mức không dám xử anh công khai mà phải lén lút hành hình vào lúc rạng sáng vì sợ làn sóng phẫn nộ của nhân dân. Trước cái chết cận kề, anh không hề run sợ. Anh hô vang "Đả đảo thực dân Pháp!", "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!" và hát vang bài Quốc tế ca. Bà Angđơrê Viôlít đã viết về giờ phút cuối cùng của Lý Tự Trọng: “Ngày 21.11.1931 thì Huy (tức là Trọng) bị đem xử tử. Sài Gòn hết sức xúc động. Hôm ấy phải ra lệnh thiết quân luật. Từ khám lớn vang ra ngoài đường phố, tiếng la hét phản đối thực dân của tù chính trị. Tiếng thét từ lồng ngực và từ trái tim của họ đã đi theo Huy ra trường chém khiến đội quân thi hành án lúc đó phải điều quân đội và lính cứu hỏa để phun nước đàn áp. Trước máy chém, Huy định diễn thuyết, song hai tên sen đầm nhảy xô đến không cho anh nói. Người ta chỉ nghe thấy tiếng anh kêu ‘Việt Nam! Việt Nam!”
Máu của anh đã thấm đỏ đất mẹ, nhưng tinh thần của anh đã hóa thành bất tử. Anh ngã xuống để hàng triệu thanh niên khác đứng lên. Anh tắt hơi thở để Tổ quốc được hồi sinh. Đọc lại những trang sử về anh, lòng tôi trào dâng một cảm xúc hỗn độn: Vừa xót xa, vừa ngưỡng mộ, vừa hổ thẹn. Xót xa vì một tài năng, một nhân cách lớn phải ra đi quá sớm. Ngưỡng mộ vì bản lĩnh phi thường vượt lên trên nỗi sợ hãi bản năng của con người. Và hổ thẹn, vì nhìn lại bản thân, đôi khi tôi vẫn còn hèn nhát trước những khó khăn nhỏ nhặt, vẫn còn thờ ơ trước những vấn đề của cộng đồng…. Tôi nhận ra rằng, sự hy sinh của Lý Tự Trọng và thế hệ cha anh không phải để chúng tôi hôm nay được quyền sống hưởng thụ một cách vô nghĩa. Hòa bình này được đánh đổi bằng xương trắng, máu đào. "Con đường cách mạng" mà anh Lý Tự Trọng nói tới, trong bối cảnh hôm nay, đã mang một hình hài mới. Đó không còn là cầm súng ra trận, mà là cuộc cách mạng về tri thức, về nhân cách và lòng tự tôn dân tộc. Kẻ thù hôm nay không hiện hình bằng súng đạn, mà là sự tụt hậu, nghèo nàn, là những cám dỗ của lối sống thực dụng, ích kỷ.
Sống trong thời bình, chúng tôi – những người trẻ thế hệ Gen Z, Gen Alpha – nợ anh một lời hứa. Lời hứa sống xứng đáng với tuổi 17 rực lửa mà anh đã hiến dâng. Mỗi lần đứng dưới cờ Tổ quốc, hát Quốc ca, tôi lại tưởng nhớ đến hình ảnh anh hiên ngang trước máy chém. Hình ảnh ấy nhắc nhở tôi rằng: “Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho ta - Mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc hôm nay!” – Những lời trong bài hát “Khát vọng tuổi trẻ” của nhạc sĩ Vũ Hoàng.
Tôi sẽ học tập không chỉ để làm giàu cho bản thân, mà để góp phần đưa đất nước vươn xa, để Việt Nam không còn là một đất nước nhỏ bé trong mắt bạn bè quốc tế. Tôi sẽ sống tử tế, trách nhiệm và dũng cảm đấu tranh với cái xấu, cái ác ngay trong đời sống thường ngày.
Lý Tự Trọng đã hóa thân vào dáng hình xứ sở. Câu chuyện về anh mãi mãi là hành trang quý giá nhất trong hành trang vào đời của tôi. Ngọn lửa từ trái tim người thiếu niên năm ấy vẫn đang cháy, truyền hơi ấm và sức mạnh cho tôi, thôi thúc tôi sống một cuộc đời rực rỡ, không phải cho riêng mình, mà cho cả những ước mơ dang dở của các anh. Dẫu thời gian có phủ bụi mờ lên vạn vật, thì tinh thần Lý Tự Trọng vẫn mãi là đóa hoa bất tử giữa dòng lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam.


