Mẹ Việt Nam Anh hùng

mẹ Phùng Thị Nghiêm

Hải Phòng09/08/2026Xã Kon Braih (Đoàn Xã Kon Braih)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi đến nhà mẹ Phùng Thị Nghiêm lần này nữa, dễ đến năm bảy lượt. Từ ngày mẹ chưa được phong danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tôi đã là chỗ quen thân của vợ chồng Dung, cháu nội duy nhất của mẹ. Chồng Dung hiện là đại úy quân đội, đang đóng quân gần nhà. Nhà mẹ, vẫn là một gian nhà thuộc khu tập thể Trung Dũng (quận Kiến An) mới làm xong thủ tục thanh lý, ngói đã lốm đốm rêu xanh. Trước sân nhà mẹ có một giàn trầu quế. Thứ trầu này lá dày, vừa thơm lại vừa cay. Ăn một miếng trầu cũng đủ nóng rực cả mặt và quết trầu tươi mãi như son. Tháng tám năm ngoái, bão làm đổ cả giàn. Suốt cả mùa đông không còn một chiếc lá. Mẹ vừa chăm chút phần gốc trầu, vừa xuýt xoa như thương đứa chắt mải chơi vấp ngã. Bây giờ nó lại xanh tốt như chưa hề có chuyện gì xẩy ra. Hôm nay là ngày 30-4, khắp xóm rực cờ màu đỏ mừng ngày đại thắng. Nhà mẹ treo cờ ngay trước cửa, ngọn cờ bay nhẹ trong gió. Mắt mẹ hướng về đó mà lòng đầy ắp suy tư, sâu lắng. Nét suy tư đó hiện ngay cả trong nụ cười mẹ chào đón khách thăm nhà. Mẹ điềm tĩnh ngồi têm trầu. Vừa têm trầu, mẹ vừa kể chuyện. Câu chuyện mẹ kể lúc nghe như cổ tích, lúc lại giống như chuyện mới hôm qua. Năm 23 tuổi, mẹ đã có một cậu con trai trắng trẻo, bụ bẫm rất dễ thương. Mẹ đặt tên cậu là Quế. Mẹ hằng thơm không biết chán vào má, vào cổ, vào đôi bàn tay bé xíu của con mỗi buổi làm đồng về. Ông Hoàng Văn Thư, chồng mẹ, là cán bộ kháng chiến của xã. Mẹ nhớ lại, tại nhà mình thường có những cuộc họp bí mật vào lúc xẩm tối. Cán bộ thanh niên, phụ nữ khắp xã đến sinh hoạt. Có khi cả một đoàn cán bộ, bộ đội thoắt đến, thoắt đi. Hằng ngày, mẹ túi bụi với việc nấu nước vối, luộc khoai lang cho cán bộ về họp ăn, rồi lo nước cho lúa, công việc nội trợ… Cậu Quế bám theo mẹ, không rời, không quấy khóc. Quân Pháp kéo đến. Cả làng đi tản cư. Mẹ bế theo Quế về tận vùng Cổ Cát (Nam Am - Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo), sau lại dạt sang vùng Thụy Anh (Thái Bình). Ông Thư thoắt đi, thoắt về, vai đeo xà cột, đầu đội mũ lá lặng lẽ như đang chuẩn bị làm một việc gì lớn lắm. Lần ấy, ông về vào nửa đêm, quần áo bê bết bùn đất. Ông lục túi nhét vào tay mẹ mấy đồng bạc còn lại, rồi cứ cầm tay mẹ chẳng muốn rời. Cu Quế đã ngủ say trên chõng. Ông Thư cúi xuống hôn chẳng muốn rời. Cu Quế đã ngủ say trên chõng. Ông Thư cúi xuống hôn vào má con. Giật mình Quế vòng tay ôm cổ bố, mà mắt vẫn nhắm nghiền trong giấc ngủ vô tư lự. Mãi không thấy ông Thư trở lại vùng tản cư của mẹ. Mẹ nghĩ, thời loạn lạc, ông ấy có việc của ông ấy, không giữ được, mà mong ngóng cũng chẳng được. Mẹ tìm mọi cách tần tảo nuôi con. Mỗi tuần, mẹ đi chợ vài lần, khi thì chợ Nam, chợ Cát, khi thì chợ Đồng đi bộ hàng chục cây số. Mỗi lần như thế, mẹ mua về một gánh quật khoai lang. Tối tối mẹ luộc khoai, bóc vỏ, rồi giã làm bánh. Bánh khoai bán cho trẻ con trong làng, bán ở chợ vất vả tối mặt mà nào có đủ ăn. Cu Quế theo mẹ bắt nắng đen nhẻm. Được cái nó khỏe và rất ngoan. Nhưng cũng chẳng tản cư được lâu. Mẹ lại cùng bàn con gồng gánh về làng Phù Niệm (nay thuộc Thái Sơn, An Lão) quê chồng. Mới đến đầu làng, mẹ đã nghe tin sét đánh: ông Thư bị quân Pháp và bọn Việt gian bắt, cắt cổ ở khu batoa. Mấy gian nhà của mẹ đã bị đốt cháy. Cây ở vườn bị chặt phá trơ trụi. Quang gánh từ vai mẹ rơi xuống tự lúc nào. Mẹ ôm chặt lấy Quế. Mãi đến khi Quế bảo: về nhà mình đi, về với bố đi, nước mắt mẹ mới trào ra, không ngăn được nữa. Năm ấy mẹ 27 tuổi và Quế mới lên 4. - Sau hồi ông nhà mất, sao mẹ không…? Tôi hỏi. Mẹ hiểu ý ngay, giữ miếng bã trầu đỏ thắm trên tay, mẹ kể: - Đó là những ngày khổ nhất đời tôi. Lúc ấy chẳng còn nhà cửa, vườn tược, mẹ con tôi dọn sang ở chung với mẹ chồng. Đi đâu, làm gì cũng chỉ mong chóng để về với con. Thế mà đâu có được yên thân. Bọn xấu miệng trêu chọc, đặt điều đủ thứ… Sự thêu dệt thành hư hư, thực thực. Khó chịu lắm, nhưng đành cắn răng, biết kêu ai. Một lần, bố đẻ tôi ốm mệt, tôi mang con về bên ngoại để có thì giờ chăm ông cụ. Khi về, mẹ chồng tôi chỉ mặt: “Tôi biết người ta sớm muộn gì cũng đi. Người hơ hớ thế kia ở vậy sao được. Nhưng đi đâu thì đi, cháu tôi phải để lại, tôi nuôi”. Nghe nói vậy mà tôi rụng rời cả chân tay, ruột như đứt từng khúc. Đời tôi nay chỉ có thắng Quế, chỉ còn thằng Quế! Tôi không thể rời nó. Ngoài tôi ra không ai được nuôi nó. Tôi đã nguyện thầm với ông ấy rằng, tôi sẽ ở vậy thờ chồng và nuôi con nên người. Con sau này chắc chắn sẽ không làm ông phải hổ thẹn. Từ ấy, tôi sống lầm lũi, đơn phương chống lại sự vây bủa của những lời bàn tán vào ra. Đói khổ tôi chịu được, nặng nhọc tôi gánh được, nhưng điều ong tiếng ve thì khó chịu nổi. Tôi cũng là con người, cũng da cũng thịt như ai, vả lại lúc ấy đã già cả gì cho cam. Tôi đành nén lại, dồn hết tình thương yêu của người mẹ cho con, nuôi dạy con trưởng thành. Quả là anh Quế đã không hổ thẹn với người cha đã khuất. Là một thanh niên thông minh, khỏe mạnh, lại có duyên thầm, anh Quế làm công tác xã đoàn rất có hiệu quả. Anh vận động tuổi trẻ Thái Sơn (thuộc Kiến An bây giờ) hăng hái lao động sản xuất, tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì thống nhất đất nước. Với mẹ, anh thường tâm sự về lẽ sống của người thanh niên trong thời chiến. Câu nói của anh mẹ còn nhớ đến bây giờ: “Chết vinh con hơn sống nhục”. Mẹ thường mắng át đi: “cha tật anh, anh lại phải tuyên truyền cả cho mẹ nữa”. Ngẫm nết ăn, dáng đi con trai, mẹ thầm bảo: “Thật chả khác bố nó tý nào. Trai thời chiến, chẳng giữ nổi nó đâu”. Và, theo cách người ta thường làm, mẹ cưới vợ cho anh, khi anh tròn 21 tuổi. Một năm sau, bé Dung chào đời. Năm 1965, Quế xung phong nhập ngũ. Trước việc này, cơ quan chính sách đã phải giảng giải kỹ: nào là, ở hậu phương cũng vinh quang, cũng anh hùng. Ai cũng ra tiền tuyến cả, thì ai trồng cấy, quai búa, làm ra của cải nuôi quân. Nào là: cụ ông đã hy sinh trong chống Pháp, Quế là con trai duy nhất, còn mẹ già, anh phải ở lại… Kể đến đây, mẹ cười: “Cái thằng đáo để. Nó tìm cách đi bộ đội bằng được. Ban đầu nó bảo rằng nó chỉ lên huyện để huấn luyện tự vệ. Sau nó viết thư về thì đã là bộ đội thông tin pháo binh rồi”. Đúng vậy. Lại một lần nữa, mẹ tạo điều kiện cho người thân duy nhất ra trận. Mẹ nhớ như vừa mới hôm qua, mẹ rang gạo tẩm đường, gói cơm nếp, nắm cơm tẻ đến đơn vị thăm con. Mẹ bảo: chỉ sợ nó ăn đói, làm sao trực chiến được. Hôm ấy, anh Quế cố giữ mẹ ở lại thêm vài giờ, mẹ giật mình, linh tính làm mẹ nhớ lại ngày nào, ông Thư cũng nắm chặt lấy hai bàn tay mẹ… Cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ập đến dữ dội. Những chiếc máy bay phản lực siêu âm đen trùi trũi cắm đầu ném bom phá hoại nhà máy, cầu, phà, trường học, bệnh viện, nhà thờ trên khắp miền Bắc. Tất cả là mục tiêu oanh tạc của kẻ thù. Máu người già, trẻ em vô tội đã đổ! Căm thù đã thành lưới lửa bủa vây, quật ngã bọn thần sấm con ma, dìm chúng xuống biển. Những ngày ác liệt đó, Hoàng Văn Quế đã anh dũng hy sinh. Anh thuộc lớp chiến sĩ đầu tiên ngã xuống để bảo vệ miền Bắc XHCN, chia lửa cho chiến trường miền Nam. Anh ra đi sau đúng một tháng mẹ lên đơn vị thăm, với những túi gạo rang và nắm cơm nắm vội. Bây giờ, ngoài đứa cháu nội là Dung, mẹ còn có hai chắt, một trai một gái. Hai chắt quấn quýt bên mẹ suốt cả ngày. Mẹ dành quãng đời còn lại chăm bẵm các cháu để vợ chồng Dung yên tâm công tác, xứng đáng là một gia đình quân nhân gương mẫu. Tôi trở về với cảm xúc vui buồn lẫn lộn. Cuộc đời Mẹ cho tôi thêm một lần hiểu thế nào là nghĩa, là tình. Tôi miên man đi dọc dãy phố mới của phường Phù Liễn. Cờ Tổ quốc bay phần phật. Đường đã lên đèn. Màu cờ hoa trong ánh điện lung linh, rực rỡ, như nhắc nhở chúng tôi hãy sống xứng đáng với những gì mẹ đã hiến dâng cho Tổ quốc, cho dân tộc, cho hôm nay và cho cả ngày mai.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
mẹ Phùng Thị Nghiêm | Câu chuyện thời hoa lửa