MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGƯỜI MẸ MANG NỖI ĐAU BẤT TẬN CHO TỔ QUỐC - NGUYỄN THỊ THỨ
Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử Việt Nam, những chiến công oanh liệt của dân tộc không chỉ được làm nên bởi những người lính nơi chiến trường, mà còn được thắp lửa bởi những người mẹ lặng thầm đứng phía sau, chờ đợi, hy sinh và chở che. Giữa hàng triệu người mẹ Việt Nam ấy, có một người mẹ mang nỗi đau đến tột cùng nhưng vẫn hiến dâng tất cả cho đất nước – đó là mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, quê ở xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cuộc đời mẹ là một chương sử đầy máu, nước mắt và lòng can đảm. Dù mang trong mình nỗi mất mát không thể tưởng tượng, mẹ vẫn bền bỉ sống vì cách mạng, vì dân tộc, để rồi từ một người mẹ quê nghèo, mẹ trở thành biểu tượng bất tử của tinh thần yêu nước Việt Nam.
Người ta thường nói: “Nhà là nơi bình yên nhất.”. Nhưng với mẹ Thứ, trong sự bình yên ấy lại chất chứa cả bầu trời thương đau. Ngôi nhà đơn sơ của mẹ nằm lặng lẽ ở một góc làng Điện Thắng Trung. Tường nhà treo 12 bằng Tổ quốc ghi công, mỗi tấm bằng là một phần trái tim của mẹ. Trên bàn thờ nghi ngút khói hương là di ảnh của 9 người con trai, những người đã nằm lại mãi mãi ở khắp các chiến trường. Bức ảnh nổi tiếng “Mẹ Thứ bên mâm 9 cái bát và 9 đôi đũa” là hình tượng khiến cả nước lặng người. Mâm cơm ấy như một cuộc đoàn tụ mà mẹ tưởng tượng ra, để các con dù đã khuất vẫn có chỗ ngồi trong ngôi nhà thân yêu. Không ai biết mẹ đã bao nhiêu lần lấy đủ 9 cái bát, bao nhiêu lần thẫn thờ nhìn mâm cơm rồi lặng lẽ khóc. Nỗi đau ấy âm ỉ ngày nay qua tháng nọ nhưng cũng chính là sức mạnh khiến mẹ kiên cường đứng vững trong những năm tháng đất nước mình trong khói lửa.
Thời chiến, Điện Bàn – Quảng Nam là một trong những vùng đất ác liệt nhất. Vậy nhưng, vợ chồng mẹ Thứ và con gái đầu là bà Lê Thị Trị vẫn bám trụ giữa làng, không rời bỏ quê hương dù bom đạn ngày đêm. Khu vườn rộng của mẹ như một pháo đài kiên cố, được ngụy trang bằng cây xanh và đàn bò. Trong vườn, mẹ đào đến 5 căn hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ. Khi an toàn, mẹ hé cửa hầm để mọi người dễ thở. Khi có động, mẹ và các con lại giả vờ đi chăm bò, lặng lẽ dùng cỏ cây để che miệng hầm, đánh lừa địch. Mỗi đêm, mẹ để ngọn đèn dầu sáng bên bàn thờ làm ám hiệu: “An toàn, cán bộ có thể về nhà.”. Nếu đèn tắt, nghĩa là nguy hiểm. Hàng trăm lượt cán bộ, bộ đội và du kích đã được gia đình mẹ che chở và nuôi dưỡng. Dù cuộc sống nghèo khó, bữa ăn chỉ có rau với muối, mẹ luôn nói: “Bộ đội đói thì đánh giặc sao được, mình còn ăn được là phải nuôi bộ đội.”. Tấm lòng mẹ bao la đến mức không ai có thể đo hết được.
Mẹ Thứ sinh được 12 người con: 11 người con trai và 1 người con gái. Trong đó 9 người con trai đã hy sinh. Người con gái duy nhất của mẹ – bà Lê Thị Trị – là thương binh, cũng được phong tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng, vì có chồng (ông Ngô Tường) và 2 con gái đều là liệt sĩ. Không chỉ mất con, mẹ còn mất: 1 người con rể – liệt sĩ Ngô Tường, hy sinh vì bị Mỹ bắt và tra tấn; 2 cháu ngoại – đều là liệt sĩ. Không một nỗi đau nào lớn hơn việc tiễn 12 người thân ra đi mãi mãi. Và đau đớn hơn, mẹ Thứ đã tự tay mở từng bức thư báo tử, từng tấm giấy báo hy sinh của các con.
Những ngày nhận tin dữ – nỗi đau kéo dài suốt 27 năm qua qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.
1) Kháng chiến chống Pháp – mất mát nối tiếp
l 18/6/1948: Con trai Lê Tự Xuyến – chiến sĩ giao liên – bị Pháp bắn tại đầu làng.
l 5/10/1948: Con trai Lê Tự Hàn hy sinh khi tải thương.
l 10 ngày sau, người em (cùng tên Lê Tự Hàn trong gia đình) hy sinh trong trận chống càn.
l Tháng 4/1954: Con trai Lê Tự Lem – mới 20 tuổi – ngã xuống khi chiến đấu ở quê nhà.
Chỉ trong 6 năm, mẹ mất 5 người con. Nhưng nỗi đau không làm mẹ gục ngã. Mẹ vẫn giữ vững tinh thần, vẫn động viên con: “Giặc còn là mình còn đánh, mẹ chịu được.”
2) Kháng chiến chống Mỹ – chiến tranh chưa dừng, nỗi đau chưa dứt
l 1966: Con trai Lê Tự Nự hy sinh.
l 1972: Hai anh Lê Tự Mười và Lê Tự Trịnh cùng ngã xuống.
l 1974: Anh Lê Tự Thịnh, đại đội trưởng Duy Xuyên, hy sinh khi chỉ huy đánh đồn.
Và đau đớn hơn cả: 9 giờ sáng 30/4/1975, con trai cả là Lê Tự Chuyển, chiến sĩ biệt động Sài Gòn, hy sinh ngay tại cầu Rạch Chiếc – chỉ vài giờ trước khi đất nước hoàn toàn thống nhất. Khoảnh khắc ấy khiến cả nước rơi lệ. Đó là sự hy sinh vào phút cuối cùng của chiến tranh, khi tự do đã ở ngay trước mắt.
Không chỉ vậy, ngoài 9 người con trai ruột, mẹ Thứ còn nhận tin:
l Con rể Ngô Tường bị Mỹ bắt và tra tấn, (sau được công nhận là liệt sĩ)
l 2 cháu ngoại (con bà Lê Thị Trị) cũng hy sinh.
Không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau ấy. Mẹ Thứ từng nói: “Con mình chết, mẹ chịu đau. Nhưng nước mất thì dân khổ trăm đường.”. Đó là triết lý sống của mẹ, là lý do vì sao dù mất mát quá nhiều, mẹ vẫn không gục ngã. Với mẹ, hy sinh của các con không phải mất mát vô nghĩa. Đó là cái giá phải trả cho hòa bình hôm nay. Và cũng chính mẹ là người đã biến nỗi đau riêng thành sức mạnh chung của cả dân tộc.
Năm 2009, Nhà nước đã lấy hình ảnh mẹ Thứ làm nguyên mẫu để xây dựng Tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng trên núi Cấm, thuộc thôn Phú Mạnh, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ – công trình lớn nhất Việt Nam về đề tài Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đây còn là biểu tượng thiêng liêng nằm tại mảnh đất lịch sử hào hùng Quảng Nam. Tượng đài khắc họa những nét bình dị, mộc mạc, vẻ đẹp nhân hậu, tình thương bao la mẹ dành cho các con và vòng tay rộng mở của mẹ – biểu tượng cho tình yêu bao la của hàng triệu bà mẹ Việt Nam đã hiến dâng con cho đất nước.
Mẹ Thứ qua đời vào năm 2010, hưởng thọ 106 tuổi, khép lại một cuộc đời với những giọt nước mắt nhưng đã mang một ý nghĩa cao cả vô bờ bến. Những người thân yêu của mẹ đã lần lượt ngã xuống, để lại khoảng trống không gì bù đắp nổi. Thế nhưng, từ những mất mát ấy, mẹ đã thắp lên một ngọn lửa sáng ngời – ngọn lửa của niềm tin, của lòng trung kiên và của tình yêu Tổ quốc vượt lên trên mọi đau thương. Dòng họ mẹ mất đi 12 người con, người cháu, nhưng đất nước lại có thêm 12 anh hùng, 12 ngọn đuốc soi đường trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất. Không có ngòi bút nào có thể diễn tả hết nỗi đau mà mẹ mang theo suốt cuộc đời. Nhưng chính nỗi đau ấy đã hóa thành vẻ đẹp bất tử, làm nên dáng hình phi thường của người phụ nữ Việt Nam. Mẹ như đã tan vào lòng đất, hòa vào dòng nước sông quê, trở thành biểu tượng để nhắc nhở rằng: “Hòa bình hôm nay không phải món quà tự nhiên mà có, mà là kết tinh của máu, của nước mắt, của những hy sinh thầm lặng đến tột cùng”.
Cuộc đời Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ không chỉ là câu chuyện của riêng một người mẹ, mà là khúc tráng ca của cả một dân tộc. Từ người phụ nữ bình dị nơi làng quê Quảng Nam, mẹ đã trở thành hình tượng vĩnh hằng của lòng yêu nước và của sức mạnh tinh thần trong bão lửa chiến tranh. Thế hệ hôm nay và mai sau sẽ mãi nhớ đến mẹ như một biểu tượng của sự hy sinh cao cả, của tình mẫu tử hóa thành tình yêu đất nước, và của những giá trị thiêng liêng làm nên bản lĩnh Việt Nam.


