MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ – NƠI NỖI ĐAU HÓA THÀNH TỔ QUỐC
Tác giả: Lê Thị Phương Anh
Đơn vị: TTĐPT K22B – Khoa NN&TT – Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Thái Nguyên
LỜI NÓI ĐẦU
Có những mất mát của chiến tranh có thể ghi lại bằng con số, nhưng cũng có những mất mát không thể đong đếm, bởi mỗi con số không chỉ là một sinh mạng mà còn là một phần máu thịt bị tách rời khỏi trái tim của những người ở lại. Hòa bình hôm nay không chỉ được xây dựng bằng những chiến thắng vang dội, mà còn được bồi đắp từ những khoảng trống không bao giờ lấp đầy trong lòng biết bao gia đình Việt Nam.
Trong những khoảng trống ấy, có những người mẹ đã âm thầm gánh chịu nỗi đau lớn hơn bất cứ điều gì, khi lần lượt tiễn những người thân yêu nhất của mình ra đi và không bao giờ được đón họ trở về. Và trong số đó, có một người mẹ mà cuộc đời đã trở thành biểu tượng của sự hy sinh cao cả – Nguyễn Thị Thứ.
Dấu ấn một cuộc đời
Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nơi con người lớn lên trong gian khó nhưng luôn mang trong mình ý chí kiên cường.
Cuộc đời mẹ gắn liền với những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, khi mỗi mái nhà đều có thể trở thành nơi chia ly, mỗi con đường đều có thể dẫn đến chiến trường. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mẹ đã lần lượt tiễn chín người con trai, cùng với một người con rể và hai cháu ngoại lên đường chiến đấu, và điều đau đớn nhất là tất cả họ đều đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Tổng cộng, mười hai người thân yêu nhất của mẹ đã trở thành liệt sĩ. Với những mất mát ấy, mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Mẹ Việt Nam Anh hùng, và đến ngày 10 tháng 12 năm 2010, mẹ qua đời ở tuổi 106, khép lại một cuộc đời dài nhưng chất chứa quá nhiều nỗi đau và sự kiên cường hiếm có.
Những chuyến đi không trở lại
Cuộc đời của mẹ là những chuỗi ngày tiễn con ra trận trong lặng lẽ, những cuộc chia ly không ồn ào nhưng lại mang sức nặng của cả một thời đại đầy biến động. Từng người con của mẹ lần lượt khoác ba lô lên đường, mang theo tuổi trẻ, mang theo ước mơ và niềm tin vào một ngày đất nước được giải phóng.
Phía sau họ là bóng dáng của một người mẹ đứng nơi đầu ngõ, lặng lẽ dõi theo cho đến khi những bước chân ấy khuất dần. Mẹ không níu kéo, không dặn dò dài dòng, bởi có lẽ hơn ai hết, mẹ hiểu rằng trong thời khắc ấy, điều con cần không phải là sự yếu lòng mà là sự vững vàng.
Thế nhưng, sâu trong trái tim người mẹ, chắc hẳn luôn tồn tại một linh cảm mơ hồ rằng có những chuyến đi sẽ không có ngày trở lại, và chính sự thấu hiểu ấy khiến mỗi lần tiễn con đi lại trở thành một lần chia ly đầy ám ảnh, dù không ai nói ra thành lời.
Nỗi đau không thể gọi thành tên
Nhắc đến Nguyễn Thị Thứ, người ta không chỉ nhớ đến một người mẹ anh hùng, mà còn nhớ đến một cuộc đời gắn liền với những mất mát dồn dập đến mức vượt quá sức chịu đựng của một con người bình thường.
Nhiều người dân xã Điện Thắng Trung vẫn nhớ từng chi tiết về gia đình mẹ Thứ. Vợ chồng mẹ cùng con gái đầu bám trụ xóm làng, vừa sản xuất, vừa đào hầm nuôi giấu cán bộ. Hằng đêm, mẹ để ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động.
Vườn nhà mẹ rộng, có 5 căn hầm bí mật. Quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để ngụy trang. Lúc an toàn, mẹ Thứ và các con mở hé cửa hầm để mọi người dễ thở và khi có động thì lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm. Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích được gia đình mẹ Thứ chở che, chăm sóc...
Nuôi con cháu trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ Thứ động viên, tiễn các con ra chiến trường. Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng (VNAH) khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ. Như vậy gia đình mẹ Thứ có 12 liệt sĩ.
Mẹ Thứ bên mâm có chín cái bát, chín đôi đũa dành cho 9 người con của mẹ đã hy sinh. Bức ảnh do Đại tá, nhà báo Trần Hồng chụp gây xúc động đối với bất cứ ai nhìn thấy
Hiếm có người mẹ nào trên thế giới này mang nhiều nỗi đau và sự hy sinh cho Tổ quốc như mẹ Thứ. Trong chống Pháp và Mỹ, mẹ Thứ lần lượt nhận 9 giấy báo tử của 9 con trai và nhận tin con rể cùng 2 cháu ngoại hy sinh.
Ngày 18-6-1948, anh Lê Tự Xuyến - chiến sĩ giao liên bị Pháp bắn tại đầu làng. Nửa tháng sau, ngày 5-10-1948, con trai Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. 10 ngày sau, con trai Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong trận chống càn. Con trai Lê Tự Lem tròn 20 tuổi hy sinh trong lúc chiến đấu ở huyện nhà vào tháng 4-1954. Trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất 5 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiến trường.
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thăm, dâng hương mẹ Thứ và các anh hùng liệt sĩ trong gia đình mẹ vào năm 2017.
Tháng 9-1966, con trai Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, anh Lê Tự Mười và anh Lê Tự Trịnh hy sinh. Năm 1974, anh Lê Tự Thịnh - Ðại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên hy sinh trong lần chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc. Con trai cả Lê Tự Chuyển - chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh vào 9 giờ ngày 30-4-1975 ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ trước vài giờ đất nước thống nhất.
Con rể của mẹ là Ngô Tường (chồng của mẹ VNAH Lê Thị Trị) tham cách mạng từ thời chống Pháp, bị giặc Mỹ bắt năm 1956, bị tra tấn cho đến lúc tử vong, được công nhận là liệt sĩ. Mẹ Thứ còn 2 cháu ngoại (con gái của mẹ Trị) là Ngô Thị Điểu bị giặc Mỹ bắt tra hỏi, hy sinh tháng 8-1970 và Ngô Thị Cúc hy sinh trong lần công tác vào vùng địch hậu năm 1973.
Năm 80 tuổi, mẹ Thứ mù đôi mắt, sống với con gái ở quê nhà sau đó chuyển ra Đà Nẵng sống cùng con út Lê Tự Tân cho đến khi mất ở tuổi 106 vào ngày 10-12-2010.
Sự mất mát, hy sinh của gia đình mẹ Thứ không có bút mực nào diễn tả hết. Nhiều cựu lãnh đạo, cán bộ vẫn còn kể câu chuyện, vào năm 1998 khi một đoàn khách nước ngoài về thăm mẹ Thứ, một nhà báo, cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi mẹ: “Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận”?
Chân dung Bà mẹ Việt Nam anh hùng lấy nguyên mẫu từ mẹ Thứ.
Mẹ Thứ điềm tĩnh trả lời: “Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng”. Người cựu chiến binh Hàn Quốc sững người, rưng rưng nước mắt rồi thấp người xuống, cầm tay xin lỗi mẹ…
Khi nước mắt cũng trở nên bất lực
Người ta thường nghĩ rằng nỗi đau lớn nhất là khi nước mắt rơi không ngừng, nhưng có lẽ với mẹ Nguyễn Thị Thứ, nỗi đau lớn nhất lại là khi không thể khóc nữa.
Trong một lần nhận giấy báo tử, mẹ chỉ lặng lẽ cầm tờ giấy trên tay, đôi bàn tay run run vuốt lại từng nếp gấp, như thể đang cố giữ lại chút hơi ấm cuối cùng của đứa con vừa rời xa mình mãi mãi. Mẹ không gào khóc, không ngã quỵ, mà chỉ lặng lẽ quay vào, thắp một nén hương rồi ngồi rất lâu trước bàn thờ, nơi từ lâu đã không còn đủ chỗ cho những bát hương mới.
Sự im lặng ấy không phải là sự cam chịu, mà là giới hạn cuối cùng của một trái tim đã chịu đựng quá nhiều mất mát, đến mức mọi biểu hiện của cảm xúc đều trở nên bất lực.
Từ nỗi đau bước ra bất tử
Điều khiến người ta cúi đầu trước mẹ không chỉ là số lượng những người thân đã hy sinh, mà còn là cách mẹ đối diện với nỗi đau ấy bằng một sự bình thản và kiên cường hiếm có.
Mẹ không oán trách số phận, không than trách chiến tranh, cũng không một lần quay lưng với con đường mà các con đã lựa chọn, bởi trong sâu thẳm, mẹ hiểu rằng sự hy sinh của họ là cần thiết để đất nước có được ngày độc lập.
Mẹ chấp nhận tất cả như một lẽ tự nhiên, và chính sự chấp nhận ấy đã nâng mẹ lên khỏi nỗi đau cá nhân để trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và sự hy sinh cao cả.
Hóa thân thành Tổ quốc
Sau này, hình ảnh của mẹ Nguyễn Thị Thứ được chọn làm nguyên mẫu cho Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng – một công trình mang tầm vóc quốc gia, được khánh thành vào năm 2015, nhằm ghi nhớ và tri ân những người mẹ đã hy sinh thầm lặng cho đất nước.
Tuy nhiên, mẹ không chỉ tồn tại trong hình hài của một bức tượng đá, mà còn sống mãi trong ký ức của nhân dân, trong những câu chuyện được kể lại qua nhiều thế hệ và trong chính cuộc sống bình yên mà chúng ta đang có hôm nay.
Ngọn lửa còn mãi
Câu chuyện về mẹ Nguyễn Thị Thứ không chỉ dừng lại ở sự xúc động, mà còn đặt ra một câu hỏi cho thế hệ hôm nay rằng chúng ta sẽ sống như thế nào để xứng đáng với những gì đã được đánh đổi bằng máu và nước mắt.
Bởi nếu sự hy sinh của thế hệ trước chỉ dừng lại ở việc được nhắc nhớ mà không trở thành động lực để thế hệ sau sống tốt hơn, thì ký ức ấy sẽ dần trở nên vô nghĩa. Chính vì vậy, lòng biết ơn không thể chỉ là lời nói, mà phải được thể hiện bằng hành động và cách sống mỗi ngày.
Có những tượng đài được dựng bằng đá, có thể theo thời gian mà bào mòn, nhưng cũng có những tượng đài không bao giờ sụp đổ, bởi chúng được dựng lên từ nỗi đau, từ sự hy sinh và từ trái tim của một người mẹ. Và mẹ Nguyễn Thị Thứ chính là tượng đài như thế.
* TÀI LIỆU THAM KHẢO
Công an Thành phố Hồ Chí Minh - “Mẹ Thứ - biểu tượng vĩnh hằng của Mẹ Việt Nam anh hùng” - Tác giả Hoàng Quân
Ảnh tư liệu của Đại tá, nhà báo Trần Hồng về mẹ Nguyễn Thị Thứ.
Bài hát “Người mẹ Quảng Nam” của Doãn Nho (lấy cảm hứng từ cuộc đời mẹ).


