Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Chơn - Mẹ Việt Nam anh hùng

Mẹ Trần Thị Chơn sinh năm 1915 trên vùng đất Tân Triều mà đặc sản bưởi đã đi vào làn điệu ca dao. Xóm nhỏ bình dị, hiền hòa, nằm ven sông Đồng Nai ấy là chiếc nôi cách mạng từ những năm đầu thập niên 1930. Gia đình mẹ sớm trở thành cơ sở của cách mạng. Trong những tháng ngày tối tăm gian khổ của hai cuộc kháng chiến trường kỳ, tình cảm riêng chung ở mẹ đã hòa quyện làm một.

Tây Ninh25/09/2026Xã Núa Ngam (Đoàn xã Núa Ngam)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Trần Thị Chơn sinh năm 1915 trên vùng đất Tân Triều mà đặc sản bưởi đã đi vào làn điệu ca dao. Xóm nhỏ bình dị, hiền hòa, nằm ven sông Đồng Nai ấy là chiếc nôi cách mạng từ những năm đầu thập niên 1930. Gia đình mẹ sớm trở thành cơ sở của cách mạng. Trong những tháng ngày tối tăm gian khổ của hai cuộc kháng chiến trường kỳ, tình cảm riêng chung ở mẹ đã hòa quyện làm một. Cuối năm 1945, chồng thoát ly đi kháng chiến, mẹ ở lại nhà chắt chiu nuôi con, vừa lo tiếp tế cho chồng, cho cách mạng. Một ngày, địch khui hầm bí mật phát hiện hồ sơ, súng đạn cất giấu nên bắt mẹ. Lợi dụng sơ hở của địch, mẹ vụt chạy vào vườn mía mênh mông cạnh nhà. Tối hôm sau, giữa màn đêm dày đặc, mẹ lặng lẽ vượt sông Đồng Nai tìm đến Chiến khu Đ, làm người dân vùng căn cứ địa cách mạng. Nói sao cho hết những bộn bề khó khăn của vùng căn cứ Chiến khu suốt chín năm dài chống Pháp. Trước cũng như sau, mẹ vẫn một dạ kiên trinh, hết lòng phụng sự chồng, phục vụ cách mạng. Mẹ đã vượt qua bao cơn hoạn nạn càn ráp của quân thù, phải từng chịu đựng những bệnh tật hiểm nghèo chốn rừng sâu nước độc, có lúc tưởng chừng tử thần cướp đi sinh mệnh của mình. Kháng chiến thắng lợi, Hiệp định Genève được ký kết, một nửa nước được độc lập. Đồng chí Nguyễn Văn Bân (tức Nguyễn Ngọc Sơn) - chồng mẹ - (lúc này là Trưởng công an huyện Vĩnh Cửu) không đi tập kết mà được phân công ở lại hoạt động nội tuyến. Mẹ khăn gói theo chồng về công tác mật ở Sài Gòn.Năm 1958, ông bị mật vụ bắt ở cầu Phan Thanh Giản và giải về bót Catina. Một giờ sau, mẹ đến tìm chồng, toàn thân ông đầy máu. Mẹ đứng lặng nhìn người bạn đời mà không thốt được lời nào. Đây cũng là lần gặp gỡ sau cùng. Sang năm 1959, mẹ sa vào tay giặc. Kể từ đó, chồng thì ở chuồng cọp, hầm đá Côn Sơn, vợ thì hết vào khám Chí Hòa đến nhà lao Tân Hiệp. Trước đòn roi, tra tấn tàn bạo của quân thù, mẹ vẫn một lòng thủy chung son sắt. Trong đau thương chung của dân tộc, nỗi đau riêng của mẹ nặng nề và nghiệt ngã biết bao nhiêu.Vừa thoát khỏi lao tù năm 1962, mẹ phải chịu thêm cái tin chồng hy sinh oanh liệt tại nhà lao Côn Đảo. Mối thù không đội trời chung kẻ đoạn lìa nghĩa vợ tình chồng đã thôi thúc mẹ biến đau thương thành sức mạnh. Không yếu đuối gục ngã trước số phận, mẹ nuôi dạy và động viên con trai tiếp bước theo lý tưởng vẻ vang của cha để góp phần giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Làm sao kể xiết những mất mát hy sinh diễn ra trong cuộc đời của mẹ. Suốt chuỗi ngày đơn côi góa bụa, cơ cực trăm bề, mẹ một mình vừa bươn chải nuôi thân, nuôi cháu, nuôi con, vừa nuôi giấu chở che cho cán bộ cách mạng tại nhà và tham gia thành lập Hội Ái hữu, hoạt động bí mật ở địa phương. Mẹ lao vào công tác không mệt mỏi, để rồi những đêm thanh vắng, tâm trí mẹ lại dõi theo từng bước hành quân của đứa con đi chiến đấu phương xa, đến người chồng đã vĩnh viễn nằm xuống nơi nghìn trùng sóng vỗ.Trong khí thế sục sôi của cuộc Tổng tiến công xuân 1968, nhà mẹ là chốt đóng quân của bộ đội. Và sau đó, hai chiếc xe tăng của giặc bị bắn tan xác trước nhà mẹ khi chúng tiến vào Tân Triều. Số phận nghiệt ngã vẫn không buông tha người cô phụ. Đứa con trai thân yêu nhất của mẹ là Phạm Văn Kịp hy sinh năm 1968 trong đợt chống càn, để lại cho mẹ một con dâu với hai cháu nội còn thơ dại. Mất chồng, mất con, đau thương nối tiếp đau thương, nhưng không quật ngã được người mẹ gan góc kiên cường. Giặc lùng, giặc bắt, ngôi nhà mái ấm thân thương của mẹ phải ba lần tan nát trước sự hủy hoại bạo tàn của quân thù, nhưng chúng không tiêu diệt được và không hủy hoại nổi trong tim mẹ niềm tin vào ngày thắng lợi. Cũng chính trong những tháng năm ngập tràn cay đắng khổ đau này, đêm nào mẹ cũng bắt đài Hà Nội, đài Giải phóng nghe tin tức, tình hình bên cách mạng,dạy cho các cháu bài ca kháng chiến. Đến giờ, cháu của mẹ vẫn nhớ bài Tiến quân ca do bà nội dạy. Mẹ âm thầm chịu đựng để gieo mầm cho mình, cho cháu con màu cờ Tổ quốc, cờ giải phóng thiêng liêng luôn thắm tươi trong tâm trí. Mơ ước của mẹ đã trở thành hiện thực. Ngày 28/4/1975, những lá cờ cách mạng do chính tay mẹ may phất phới tung bay giữa trụ sở xã Tân Triều. Đất nước thống nhất, không đòi hỏi, không nghỉ ngơi hưởng thụ, mẹ tích cực góp phần xây dựng và bảo vệ chính quyền còn non trẻ. Mẹ lo cho từng đứa con đi chiến đấu trở về, lo cho từng đối tượng có công mà nhà nước chưa biết hết, tham gia giải quyết giặc đói, giặc dốt, quan tâm hết mực đến cuộc sống của bà con... Dân làng Tân Triều luôn giành cho mẹ những tình cảm kính trọng, thương yêu. Biết bao người đã không ngăn được dòng nước mắt khi đến viếng thăm những ngày mẹ lâm trọng bệnh, thầm mong mẹ vượt qua cơn hiểm nghèo. Ngày 31/8/1993, mẹ Trần Thị Chơn trút hơi thở sau cùng. Năm 1994, Nhà nước truy tặng mẹ danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 438/KTCTN ngày 24/4/1995.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn