Mẹ VNAH - Trần Thị Hợp
Đến thăm mẹ Trần Thị Hợp, Mẹ Việt Nam anh hùng vào đúng lúc mẹ vừa đi nằm viện về. Sau vài lời giới thiệu của chị Hội trưởng phụ nữ phường, chúng tôi hỏi thăm tình hình sức khỏe của mẹ, mẹ cười hiền từ nói ngay: - Có bệnh gì nặng đâu? Cái bệnh tuổi già của chúng tôi mà các cháu ở nhà bên cứ nằng nặc đòi bà đi khám bệnh. Nể các cháu tôi vào nằm viện vài ngày cho chúng nó yên tâm. Nhìn dáng người nhỏ nhắn nhưng còn nhanh nhẹn và tấm lưng đã hơi còng của mẹ, chúng tôi trộm nghĩ mẹ đã trải qua một thời lam lũ, vất vả. Mẹ Hợp sinh ra ở xã Đông Khê, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng. Theo cái lẽ ở đời, cũng như bao phụ nữ khác, lớn lên mẹ xây dựng gia đình. Chồng mẹ, ông Nguyễn Văn Khảm là người rất mực thương vợ, yêu con. Nhưng thời gian mà mẹ được hưởng hạnh phúc tổ ấm gia đình với người chồng chẳng được là bao. Chồng mẹ mất sớm để lại cho mẹ một đứa con 3 tuổi dại thơ. Chồng mất, gia đình nhà chồng đang bị nạn, nên gặp nhiều khó khăn. Mẹ nghĩ giờ đây mình là trụ cột trong nhà phải rắn rỏi, vững vàng lên mới đủ sức nuôi con. Đời người góa phụ thiệt thòi, vất vả. Thấy mẹ lúc ấy “đầu còn xanh, tuổi còn trẻ” nhiều người đã khuyên mẹ tái giá. Có người đánh tiếng hỏi. Trong lòng mẹ nhiều nỗi suy tư: đi bước nữa hay ở vậy nuôi con? Nghĩ đi nghĩ lại mẹ thấy không thể dứt tình ra đi tìm hạnh phúc cho riêng mình. Nhớ chồng, thương con, mẹ không muốn thằng Hẩu còn dại, còn thơ ở lại một mình. Mẹ dồn hết tình thương cho thằng Hẩu, chăm chút cho con từng bữa ăn, giấc ngủ. Đồng đất Đông Khê không màu mỡ, làm ra hạt gạo nuôi sống con người vất vả, gian truân. Thương con, mẹ không quản khó, ngại khổ tần tảo sớm hôm nuôi con ăn học. Cuộc sống khó khăn, nhiều bữa giáp hạt, mẹ phải nhịn đói nhường cơm cho con. Lớn lên trong tình thương yêu, chăm sóc của mẹ, anh Hẩu càng hiểu, càng thương mẹ hơn. Vừa đi học, anh vừa tham gia lao động giúp mẹ. Nhìn bước chân nhanh nhẹn của con trên cánh đồng làng, lòng mẹ thấy vui và quên hết mệt nhọc. Khi anh Hẩu trưởng thành cũng là lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta bước vào thời kỳ quyết liệt. Giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt Hà Nội - Hải Phòng. Hẩu theo các anh, các chị trong làng đi dân công đắp đường ra đảo Đình Vũ, vác đạn cho trận địa pháo phòng không. Thấy các anh lớn tuổi kế tiếp nhau lên đường đánh giặc, lòng anh Hẩu náo nức. Anh đã làm đơn tình nguyện xin được nhập ngũ. Xét thấy gia đình chỉ có một mẹ, một con và anh là một thanh niên hiền lành, xốc vác việc gì cũng hăng hái tham gia, nên xã muốn cử anh đi học lớp sử dụng máy bơm về phục vụ sản xuất, nhưng anh quyết tâm xin đi bộ đội. Được tin con xin nhập ngũ, mẹ thoáng buồn. Mẹ chỉ có mình anh. Anh là tất cả cuộc đời mẹ, sớm hôm ở nhà có mẹ có con. Thấy mẹ buồn anh Hẩu lựa lời động viên: - Bạn bè con ở chiến trường giờ đây đang chiến đấu quyết liệt cả đêm, con ở nhà khoanh tay, bó gối ngồi hưởng hòa bình thì xấu hổ lắm. Mẹ cứ để con đi! Thấy anh nói phải, hơn nữa mẹ nghĩ: ai cũng như mình thì lấy ai đi đánh giặc bảo vệ dân, bảo vệ nước. Yêu quý con nhưng mẹ không thể coi anh là của riêng. Ngoài bổn phận của con đối với mẹ, anh phải làm nhiệm vụ người thanh niên khi đất nước có chiến tranh. Mẹ khuyên anh: - Giờ con đã khôn lớn, tùy con lựa chọn. Nhưng đã đi phải đến nơi đến chốn, đừng thấy khó, thấy khổ mà đảo ngũ quay về. Lúc ấy mẹ không biết ăn nói với dân làng làm sao đâu. Anh Hẩu đi rồi, bên mái nhà tranh của mẹ vẫn ấm hơi lửa, rộn tiếng cười vui, bởi quanh mẹ còn có họ hàng và bà con thôn xóm. Công việc nhà nông bận rộn suốt quanh năm, là người ham việc, ham làm mẹ chẳng dám nghỉ lấy một ngày. Mẹ thường nói với bà con trong đội sản xuất: “lao động cho khỏe con người, thấy mình khỏe con nó ở ngoài chiến trường mới yên tâm”. Khắc sâu lời mẹ dặn, ở chiến trường, anh Hẩu luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của đơn vị. Năm 1971, anh Hẩu, người con trai độc nhất của mẹ đã chiến đấu và anh dũng hy sinh tại mặt trận phía Nam Tổ quốc. Tin buồn đến với mẹ. Mẹ không tin đó là sự thật. Ngày tiễn đưa anh lên đường mẹ vẫn hy vọng say ngày chiến thắng anh sẽ trở về. Nhưng những mất mát trong chiến tranh là không thể tránh khỏi. Mẹ đã khóc, khóc cho vợi đi những đau thương. Mẹ gượng dậy từng giờ, từng ngày, lao vào công việc. Thời gian giúp mẹ vợi nỗi buồn đau. Mẹ tham gia mọi việc trong làng xã, động viên bà con thực hiện tốt các phong trào sản xuất, xây dựng quê hương. Kể về mẹ, trong xóm, ngoài thôn không một ai phàn nàn, điều tiếng. Mẹ sống giản dị, chan hòa, được xóm làng yêu mến, kính trọng. Điều đặc biệt mà các đồng chí lãnh đạo địa phương cho biết: mẹ không hề đòi hỏi quyền lợi cho riêng mình. Mẹ thường nói với mọi người: - Đánh Mỹ là việc của toàn dân, cả nước cùng có công đâu chỉ có riêng một gia đình. Sự hy sinh mất mát của gia đình mình thấm vào đâu với nỗi đau mất mát đau thương của cả dân tộc. Điều suy nghĩ thật bình thường. Sự bình dị ấy đã tô đẹp thêm cuộc đời mẹ. Mẹ là một tấm gương anh hùng, biết hy sinh cả đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trên nền đất cũ năm xưa, ngôi nhà tranh vách đất giờ được thay thế bằng nhà mái bằng đẹp đẽ, khang trang. Ngôi nhà tình nghĩa mà chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng góp phần sưởi ấm lòng mẹ lúc tuổi già. Các cháu trong họ sống quây quần bên mẹ, sự quan tâm chăm sóc của chính quyền và nhân dân địa phương, của công ty Bia Hải Phòng nơi nhận phụng dưỡng làm cho mẹ thấy vui và thoải mái trong những năm tháng còn lại của đời mình.



