MỘT ĐÊM CÒN SỐNG
Tôi tên là Phạm Văn Tâm, sinh năm 1952, quê ở thôn Lê Bình, xã Thanh Miện, thành phố Hải Phòng. Tôi nhập ngũ năm 1971, được điều vào chiến trường Quân khu 9 – Tây Nam Bộ. Giờ đây, khi ngồi kể lại những năm tháng ấy, tôi vẫn thường tự hỏi: vì sao mình còn sống để trở về? Bởi trong chiến tranh, sống hay chết không phải do mình chọn, mà chỉ cách nhau một đêm, một bước chân, một viên đạn lạc.

Tôi tên là Phạm Văn Tâm, sinh năm 1952, quê ở thôn Lê Bình, xã Thanh Miện, thành phố Hải Phòng. Tôi nhập ngũ năm 1971, được điều vào chiến trường Quân khu 9 – Tây Nam Bộ. Giờ đây, khi ngồi kể lại những năm tháng ấy, tôi vẫn thường tự hỏi: vì sao mình còn sống để trở về? Bởi trong chiến tranh, sống hay chết không phải do mình chọn, mà chỉ cách nhau một đêm, một bước chân, một viên đạn lạc.
Ngày tôi bước vào chiến trường. Năm ấy tôi 19 tuổi. Tuổi chưa kịp lớn, nhưng đã phải học cách đối diện với cái chết. Vừa rời quê, chưa kịp quen mùi thuốc súng, tôi đã hiểu một điều: ngày hôm nay còn nhìn thấy nhau, ngày mai có thể đã không còn.
Chiến trường Tây Nam Bộ khác hẳn những gì tôi tưởng. Không núi cao, không rừng sâu, mà là sông rạch chằng chịt, nước ngập đến ngực, bùn lầy quấn chân, đêm xuống muỗi nhiều như khói. Chúng tôi sống trong những căn hầm tạm, ăn cơm vắt, ngủ võng, súng lúc nào cũng trong tay. Ban ngày ém quân, ban đêm hành quân. Và cũng từ đó, tôi quen dần với cảm giác sáng thức dậy là mừng vì mình còn sống.
Tin người chết đến mỗi ngày. Ở chiến trường, tin chết đến nhanh và lạnh lùng lắm. Hôm nay còn ngồi ăn chung nắm cơm, mai nghe tin người này hy sinh. Chưa kịp nguôi ngoai, ngày kia lại nghe người kia chết. Có những cái chết rất gần. Gần đến mức chỉ cách mình vài mét. Có những cái chết không nhìn thấy, chỉ nghe tên gọi, nhưng lạnh buốt tận xương sống. Mỗi lần nghe tin như vậy, tôi không khóc được. Không phải vì vô cảm, mà vì trong lòng chỉ còn một khoảng trống mênh mông. Tôi nghĩ thầm: biết đâu ngày mai, người được gọi tên lại là mình.
Ranh giới vô thường. Ở chiến trường, ranh giới giữa sống và chết mỏng lắm.
Mỏng hơn sợi tóc. Mỏng đến mức chỉ cần đổi chỗ ngủ, đi chậm hay nhanh một bước, là số phận đã khác. Có lần, tôi đổi vị trí gác với một đồng đội vì anh ấy mệt. Chỉ vài phút sau, đạn pháo rơi trúng chỗ anh ấy vừa đứng. Nếu không đổi chỗ, có lẽ người nằm lại là tôi. Từ hôm đó, tôi luôn nghĩ: mình đang sống là nhờ may mắn của người khác.
Ban đêm, nằm trong võng, nghe tiếng nước vỗ mạn xuồng, tiếng côn trùng rì rào, tôi không dám ngủ sâu. Không phải vì sợ bom đạn, mà vì sợ sáng dậy nghe thêm một cái tên nữa không còn. Có những đêm, tôi nhìn lên bầu trời tối đen và tự hỏi: liệu ngày mai mình còn được nhìn thấy bầu trời này không?
Ngày tôi được lệnh rời chiến trường, trong lòng không hẳn là vui. Tôi vui vì được sống, nhưng nặng trĩu vì quá nhiều người đã nằm lại. Trở về thôn Lê Bình, nhìn ruộng đồng yên bình, tôi mới hiểu rằng: mỗi ngày mình được thở, được đi, được nhìn thấy ánh nắng là một điều rất lớn. Tôi chỉ muốn nhắn với thế hệ trẻ hôm nay một điều giản dị: Hãy sống cho ra sống. Bởi có những người, chưa kịp sống đã phải nằm xuống. Và hãy trân trọng từng ngày bình yên, vì đã có một thời, ngày mai là điều không ai dám chắc mình còn hay mất.



