Bài viết

Một đời "thắp lửa"

Giờ thì GS, TS, NGND Trần Quán Anh, người bác sĩ trẻ tài năng và lãng mạn, tác giả của vở kịch nói “Tiền tuyến gọi” nổi tiếng năm xưa đã bước sang tuổi tám mươi...

Hà Tĩnh16/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giờ thì GS, TS, NGND Trần Quán Anh, người bác sĩ trẻ tài năng và lãng mạn, tác giả của vở kịch nói “Tiền tuyến gọi” nổi tiếng năm xưa đã bước sang tuổi tám mươi. “Bát thập đắc hi hỉ”-sống đến tám mươi tuổi đã đạt được niềm vui-vậy mà ông vẫn mải miết với công việc “thắp ngọn lửa tình yêu”, đem lại niềm vui cho các gia đình hiếm muộn.

“Tiền tuyến gọi” và Đặng Thùy Trâm

Hồi nhỏ xem phim “Tiền tuyến gọi”, tôi rất mê nhân vật Vũ Khiêm, Hương Giang. Sau này, tôi rất bất ngờ khi biết tác giả kịch bản của bộ phim là một bác sĩ từng vào sinh ra tử ở chiến trường Quảng Trị. Thật may mắn trong một buổi sáng đầu năm 2016 này, tôi được ngồi nghe ông kể chuyện.

“Quê tôi ở phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, TP Hà Nội. Tôi học Trường Đại học Y Hà Nội khóa 1955-1961, khóa đầu tiên sau khi hòa bình ở miền Bắc. Tốt nghiệp, tôi được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy tại Bộ môn Ngoại và làm bác sĩ ở Bệnh viện Việt Đức”-Giáo sư Trần Quán Anh kể.

Chiến tranh, dù công tác cố định ở một nơi nhưng ông và các đồng nghiệp ở trường thường được cử đi chi viện cho các chiến trường ác liệt. Ông vào Hàm Rồng (Thanh Hóa), Nghệ An, Hà Tĩnh, vùng “cán soong” Quảng Bình, bám trụ cùng bộ đội ta suốt 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ trong Chiến dịch Quảng Trị năm 1972… Đi nhiều mặt trận, chứng kiến nhiều gương hy sinh, sự gian khổ của “chiến sĩ áo trắng”, ông thường “phàn nàn” với các nhà văn, các kịch tác gia nổi tiếng như Thế Lữ, Lộng Chương, Lưu Trọng Lư. Các anh tuyên truyền, ca ngợi nhiều thành phần, nhưng ngành y cũng đổ xương máu và tận tụy đóng góp cho cuộc chiến tranh mà chỉ có mỗi bài hát “Ngành y ta đó” của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát! Các ông nhà văn, kịch tác gia cười, bảo: “Cậu có vốn sống, lại nhiệt thành thế nên viết đi”. Thế là ông lao vào viết. Suốt năm 1965, ông ở “đất lửa” Quảng Bình sống chiến đấu với bộ đội và nhân dân, đầu năm 1966 bắt tay viết kịch bản “Tiền tuyến gọi”, ngày 3-12-1966 hoàn thành bản thảo. Đầu năm 1967, vở kịch được Đoàn Kịch nói Hà Nội dàn dựng và lập tức gây được tiếng vang lớn, thu hút rất đông khán giả đến xem. Có những đợt diễn ở Rạp Hồng Hà kéo dài 48 đêm liền. Sau đó, Đoàn Kịch nói Hà Đông cũng dàn dựng và cả hai đoàn diễn suốt từ năm 1967 đến 1969. Năm 1970, đạo diễn Phạm Kỳ Nam và ông chuyển thể “Tiền tuyến gọi” thành phim truyện…

Giáo sư Trần Quán Anh (thứ hai, từ phải sang) thăm khám cho một bệnh nhân. Ảnh: Khôi Nguyên

“Tiền tuyến gọi” chinh phục được khán giả bởi vì lần đầu tiên nói về trí thức gắn bó với chiến trường. Thông qua các nhân vật như bác sĩ: Vũ Khiêm, Lê Huy, Hương Giang… tác phẩm nêu thông điệp rằng, khoa học phục vụ cuộc sống, lúc đó là đời sống chiến đấu của quân và dân ta chứ không phải vì danh hiệu nào đó. Chủ đề như vậy nên sức sống của nó lâu bền”-Giáo sư Trần Quán Anh khẳng định.

“Trong cuốn nhật ký nổi tiếng của mình, chị Đặng Thùy Trâm có nói đến Vũ Khiêm và Hương Giang, hai nhân vật trong vở kịch của giáo sư”-Tôi nhắc khéo.

“Đặng Thùy Trâm là sinh viên khóa đầu tiên tôi giảng dạy ở trường. Ngày ấy, mỗi cán bộ giảng dạy phụ trách một tổ, như một tiểu đội trưởng, phải lo tất cả mọi chuyện cho sinh viên. Tôi không phụ trách tổ của Đặng Thùy Trâm, nhưng phụ trách đội văn nghệ nhà trường, mà Thùy Trâm ở trong tốp ca của “gánh hát rong” đó. Thầy trò đi diễn khắp nơi. Nơi nào có sinh viên đi thực tập là đến biểu diễn. Hà Giang, Lạng Sơn, Hà Đông, Hải Phòng… Nhiều kỷ niệm lắm. Đặng Thùy Trâm học giỏi, chăm chỉ, sống có lý tưởng và hoài bão…”-Ông nhớ lại.

Tốt nghiệp, thầy trò chia tay mỗi người một ngả. Ông vào chiến trường Quảng Trị, Đặng Thùy Trâm vào Quảng Ngãi. Sau này, ông nghe bác sĩ Nguyễn Văn Thái, một cán bộ giảng dạy với ông cùng vào Quảng Ngãi với Đặng Thùy Trâm kể lại: Một đêm đang ngủ ở cứ, bác sĩ Thái bỗng nghe Đặng Thùy Trâm lay gọi: “Anh ơi, dậy nghe kịch của anh Trần Quán Anh”. Cả hai vừa nghe “Tiền tuyến gọi” qua chiếc đài bán dẫn vừa khóc vì nhớ trường, nhớ bạn bè. Trong nhật ký của người con gái anh hùng có ghi: “Nếu anh là Vũ Khiêm thì em có phải là Hương Giang không?”. “Tiền tuyến gọi” đã thấm sâu vào giới y học hồi đó, như ngọn lửa thúc giục mọi y sĩ, bác sĩ ra tiền tuyến phục vụ.

“Thắp lửa” cho những gia đình hiếm muộn

Với Trần Quán Anh, tình yêu nghệ thuật và y học đều sánh ngang. Nhưng giữa hai mối tình đó, buộc ông phải chọn một để đắm say cùng. Và ông chọn y học phục vụ cuộc sống nhân dân. Giờ đây, những quá khứ hào hùng vẻ vang xưa ít thấy ở nhà riêng hoặc phòng khám bệnh của ông, mà thay vào đó là nụ cười trẻ thơ và ánh mắt hạnh phúc của các ông bố, bà mẹ.

“Tôi bước vào lĩnh vực Nam khoa cũng tình cờ thôi. Sau khi đất nước thống nhất, tôi chuyên nghiên cứu về thận, tiết niệu và đa khoa, đó là lĩnh vực chuyên sâu của phẫu thuật. Tôi có người bạn học từ thời phổ thông. Anh chia tay người vợ đầu vì có “trục trặc” trong quan hệ. Lấy vợ thứ hai mãi cũng chưa có con, anh mới đến nhờ tôi giúp đỡ. Thương bạn, tôi phải cất công tìm kiếm tài liệu để chữa cho anh ấy. Kết quả là bạn tôi giờ đã có cháu nội, cháu ngoại…

Hồi đó người ta quan niệm thận là sinh dục chứ biết đâu nó là bài tiết, mà tôi lại chuyên sâu về nó nên bệnh nhân tưởng tôi thông thạo về giới tính! Sau do bệnh nhân nhiều quá, tôi tập trung nghiên cứu lĩnh vực này. Các đoàn y học nước ngoài đến Việt Nam, tôi đến hỏi kinh nghiệm; mỗi lần đi hội thảo ở nước ngoài, tôi lao vào các cơ sở chữa bệnh nam khoa để học tập”.

Câu chuyện của chúng tôi thỉnh thoảng bị ngắt quãng bởi người thì vào cảm ơn, người thì nằng nặc xin gặp để nhờ ông tư vấn, mặc dù phòng khám đa khoa tiết niệu và Nam học mang tên “Tâm Anh” ở phố Lý Nam Đế có 4 buồng khám bệnh. Nhu cầu quá nhiều. Trung bình mỗi ngày, phòng khám của ông khám, chữa cho 80 bệnh nhân.

Ông kể cho tôi nghe một trường hợp mà nghe xong, tôi cứ ngỡ như chuyện cổ tích. Đó là năm 2010, kỹ sư Tùng ở Nhà máy Thủy điện Sông Đà đến gặp ông than vắn thở dài về hoàn cảnh gia đình: Vợ anh là giáo viên, hai người lấy nhau đã 5 năm mà chưa có con. Nhiều đêm tỉnh dậy, anh thấy gối vợ ướt đẫm nước mắt. Thương vợ, anh quyết tâm chữa bệnh, nhưng đi gặp nhiều thầy mà vẫn chưa có kết quả. Khám bệnh cho kỹ sư Tùng, ông tìm ra nguyên nhân là tinh trùng của anh rất yếu. Ông cho anh đơn thuốc mà ông cất công sưu tầm ở Bệnh viện Milan (I-ta-li-a) năm 2007. Tùng uống đến đơn thuốc thứ ba, tức là khoảng tháng thứ 9 thì vợ có thai, rồi đẻ cô con gái đặt tên là Linh Đan. Ba năm sau, vợ chồng anh có cậu con trai thứ hai đặt tên là Hải.

Đã có hàng nghìn cặp vợ chồng được ông và đồng nghiệp “thắp lửa” như thế.

Nhưng để có được các cơ sở nam học như ngày hôm nay là cả một câu chuyện dài đầy khó khăn gian khổ của người đặt nền móng cho nó. Khi ông đã tìm ra phương pháp chữa bệnh thì chưa được sự ủng hộ của lãnh đạo ngành. Bởi vì hồi đó đất nước phải lo khôi phục kinh tế, chống các bệnh dịch và hậu quả của chiến tranh để lại. Năm 1999, ông đặt vấn đề xin nhập thuốc chữa bệnh nhưng Bộ Y tế chưa dám quyết định, còn dư luận thì cho rằng nhập loại thuốc chữa bệnh cho đàn ông chỉ khuyến khích ăn chơi mà thôi. Vì vậy, ông và đồng nghiệp hồi đó chữa cho bệnh nhân mà như chữa chui. Gặp và chữa cho nhiều bệnh nhân, ông biết, những trục trặc về sinh lý, kể cả nam và nữ, sẽ gặm nhấm, bào mòn hạnh phúc gia đình, đến lúc bùng phát thành bi kịch xã hội. Năm 2000, được sự giúp đỡ của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban quốc gia về Dân số-Kế hoạch hóa gia đình lúc bấy giờ là Trần Thị Trung Chiến, ông gặp mặt các đại biểu Quốc hội. Ông trình bày về căn bệnh nam khoa và xin Quốc hội hai điều: Thứ nhất, phải coi nó là một bệnh để chữa; thứ hai là coi nó như một bệnh bình đẳng với căn bệnh khác, nghĩa là được thuốc thang, săn sóc. Năm 2002, Bộ trưởng Bộ Y tế ký quyết định thành lập Trung tâm Nam học trực thuộc Bệnh viện Việt Đức do ông làm Giám đốc. Từ đó, ông phải tự viết sách, in sách, tự đào tạo học trò và truyền nghề. Cho đến bây giờ, toàn quốc đã có Hội Y học giới tính do ông làm Chủ tịch, các cơ sở điều trị đã có trung tâm phục vụ sinh sản. Ông được giới y học tôn vinh là người “khai sơn phá thạch” trong xây dựng ngành nam học.

“Ban đầu, ngành nam khoa của nước ta chậm so với châu Âu 30 năm, so với khu vực khoảng 15 năm. Nhưng từ năm 2000 đến nay, do ta mở tốc lực nên giờ cũng không thua kém thế giới. Trung tâm Nam học ở Bệnh viện Việt Đức đã có những lớp nam khoa cơ bản, tương lai sẽ trở thành các chương trình giảng dạy đại học. Các cơ sở nam khoa bắt đầu phát triển, các bệnh viện có các khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản cho cả nam và nữ. Cuộc sống gia đình giờ không chỉ cơm ăn áo mặc mà là hạnh phúc đầm ấm bên con cái. Chúng tôi nguyện góp một phần để giữ ngọn lửa tình yêu trong mỗi gia đình”-Giáo sư Trần Quán Anh lạc quan.

Tôi hiểu, ngọn lửa yêu nghề, yêu cuộc sống vẫn cháy mãi trong ông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn