Cựu chiến binh

Một thời gian khổ hào hùng

Chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi mang tầm chiến lược càng củng cố lòng tin đối với anh em chiến sĩ. Được lệnh thần tốc, các đoàn xe vận tải đưa chúng tôi từ Củng Sơn theo đường 7 rồi rẽ vào đường 14, qua thị xã Buôn Ma Thuột, Quảng Đức rồi xuống Lộc Ninh sau 5 ngày đêm trên con đường chi chít những hố bom, hố pháo. Chúng tôi vào đóng quân tại một khu rừng thuộc Thủ Dầu Một. Được nghỉ ngơi vài ngày, bổ sung quân tư trang đạn dược, chúng tôi lại hành quân tiếp và tập kết tại Bến Súp sông S

04/03/2026Đỗ Minh Chung2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nằm sát bờ sông Sài Gòn, những làn gió mát rượi như tiếp thêm sức lực cho chúng tôi bước vào trận chiến đấu mới. Không khí có vẻ yên bình, không tiếng pháo gầm, đạn rít, chiến tranh thật lạ lùng và cũng thật khó lường, tự lúc nào gió đã đưa tôi vào giấc ngủ, một giấc ngủ sâu sau nhiều đêm thiếu ngủ. Quá trưa về chiều hôm ấy, ngày 26 tháng 4 năm 1975 trong cơn mơ màng, tôi văng vẳng thấy hai tiếng nổ đất trời rung chuyển hất tôi ra khỏi võng, chưa hiểu rõ vì sao thì thấy đồng chí Quyết trung đội phó chạy sang gọi bên này có sao không? Vẫn còn ngái ngủ tôi trả lời theo cảm tính không sao cả, đồng chí Quyết nói bên ấy “dính” nhiều lắm. Lúc đó tôi mới tỉnh hẳn và liên tưởng hai tiếng nổ đó chính là bom, không phải hai quả mà bốn quả bom, do máy bay địch ném tọa độ. Trong giây lát, do phản ứng nhanh nhậy của người lính đã từng trải trận mạc, tôi giật cuộn băng cài trên nắp ba lô vừa chạy vừa xé. Đến nơi vừa băng cho đồng đội, nước mắt tôi cứ trào ra, nước mắt thương đồng đội, nước mắt căm giận kẻ thù. Cả khẩu đội có tám người, hy sinh một, bị thương năm. Đồng chí Bùi Xuân Vịnh quê ở Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc bị một mảnh bom từ phía trái bụng dưới găm xuyên ra phía sau lưng. Tôi nắm tay Vịnh, Vịnh nhìn thẳng vào tôi đôi mắt vẫn mở to, miệng như muốn nói điều gì, nhưng máu cứ trào ra. Chúng tôi nhanh chóng đưa Vịnh ra phẫu nhưng không kịp, Vịnh đã hy sinh trên đường đến phẫu. Năm đồng chí còn lại gồm tiểu đội trưởng Phái quê ở Ninh Bình bị cụt tay, Thiệu quê ở Bắc Thái bị thương vào đùi, Hoạt quê ở Thái Bình bị cụt một chân, Đình bị thương ở đầu, Lềnh Hắm Chi người gốc Hoa quê ở Hà Giang bị thương vào chân. Khẩu 12,7mm bị hỏng nặng, đau thương và căm giận, song nhiệm vụ còn phía trước, gác đau thương để biến thành hành động. Làm công tác thương binh liệt sĩ xong, chiều 27 tháng 4 năm 1975 đồng chí Nguyễn Tiến Thanh chính trị viên đại đội quê ở Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ, gọi tôi lên hầm đại đội giao nhiệm vụ làm tiểu đội phó, thật sự tôi vui ít mà lo nhiều. Chưa hết băn khoăn lo lắng, thì chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975 đồng chí Thanh đến hầm tiểu đội triển khai nhiệm vụ: “Đồng chí cho anh em chuẩn bị hành quân chiến đấu, chiến dịch này được lấy tên là chiến dịch Hồ Chí Minh, quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương là giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước”. Tôi nhận nhiệm vụ và phân công cho anh em mang vác vũ khí, quân trang, quân dụng. Công tác chuẩn bị đã hoàn tất theo lệnh của trên, chúng tôi bắt đầu hành quân.

Suốt một đêm dài qua nhiều cánh đồng lầy lội, những bờ ruộng nhỏ như hai bàn tay đã làm cho chúng tôi nhiều lần trượt ngã. Mang vác nặng hành quân đường dài, mọi người đều thấm mệt. Khoảng 4 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, khẩu lệnh từ trên đầu đội hình truyền xuống: “Dừng lại cho trung đội đặc biệt lên”. Sau khi đội hình trung đội đặc biệt vượt lên phía trước. Khoảng 5 giờ sáng tiếng súng nổ giòn giã xen lẫn những tiếng cối bắn cấp tập, được lệnh tiếp cận nhanh để yểm trợ cho đơn vị bạn, chúng tôi nhanh chóng vượt qua cầu khi bùn đất bắn trên mặt cầu trơn như đổ mỡ, may sao anh em không ai bị té ngã. Song phía bên kia cầu đã thấy đơn vị bạn cáng thương binh ra tuyến ngoài. Nhiều đồng chí bị thương nặng vẫn cố vươn đầu ra khỏi võng động viên chúng tôi: “Chốt địch đã bị phá huỷ hoàn toàn, các đồng chí nhanh chóng truy kích tàn quân”. Quay trở lại Cầu Sáng, chúng tôi giá súng ngay trên điểm đầu cầu, địch dùng cối bắn quyết liệt làm chúng tôi không thể thao tác được. Biết vị trí đã được địch căn tọa độ, tôi bàn với đồng chí Bống tiểu đội trưởng, đồng chí cho anh em đào công sự gần phía bìa làng, còn tôi sẽ chuyển từng bộ phận súng vào sau. Biết anh em mới nhập ngũ cuối năm 1974 kinh nghiệm còn ít, để tránh thương vong, đồng chí Bống hướng dẫn cho anh em đào công sự và hầm trú ẩn. Cùng lúc tôi tháo súng thành 3 bộ phận chuyển dần vào công sự. Đạn cối địch vẫn điên cuồng gầm thét, nắm được quy luật của địch chúng cứ bắn 5 quả, dừng một lát lại tiếp 5 quả khác. Vai vác nặng, chân sải dài mồm tôi vẫn nhẩm đếm tiếng “cạch” đầu nòng của cối. Hết 5 tiếng “cạch” ấy tôi lại nằm xuống dưới rãnh đường. Tiếng nổ inh tai, mảnh đạn rít lên cắm phầm phập quanh vị trí tôi nằm. Cứ như vậy tôi chuyển hết bộ phần của súng vào vị trí chiến đấu mới. Tiếng súng bộ binh, tiếng cối thưa dần rồi im hẳn. Chúng tôi lấy lương khô ra ăn, vừa đưa vào miệng chưa kịp nhai, thì lại nhận được lệnh truy kích địch theo đường 15 tiến vào quận lỵ Hoóc Môn. Buổi trưa trời giữa xuân oi ả, các bi đông nước từ đêm qua đã cạn, khát đến cháy họng nhưng không một chiến sĩ nào kêu ca. Từ các hướng tàn quân địch và lực lượng tại chỗ chống trả quyết liệt, lợi dụng vật che đỡ, những góc phố, góc nhà bê tông địch thò nòng súng ra siết cả băng, đơn vị cối, DKZ của ta do yêu cầu kỹ thuật phải đặt giữa lòng đường nên anh em bị thương vong nhiều. Đặt súng bắn ngang bên lề phố, khẩu đội tôi đã bắn hết hai thùng đạn vẫn chưa khống chế được địch, lúc đó đồng chí Thanh chính trị viên đại đội nhìn thấy đội hình bộ binh của tiểu đoàn 7 đang thận trọng từng bước lợi dụng vật che khuất tiến lên. Đồng chí Thanh hô to “hoả lực chúng tôi sẽ chi viện thật đắc lực các đồng chí phải nhanh chóng xung phong tiến lên mới dứt điểm được”. Lúc đó đồng chí Thái tiểu đoàn phó tiểu đoàn 7 tay lăm lăm khẩu súng ngắn hô to “Tất cả xung phong” khẩu lệnh vừa phát ra các chiến sĩ bộ binh xông lên như vũ bão, bọn địch biết không thể chống đỡ được đã bỏ chạy, một số đầu hàng, lúc đó vào khoảng 12 giờ trưa quận lỵ Hoóc Môn hoàn toàn được giải phóng. Đêm 29 tháng 4 năm 1975 đơn vị chúng tôi chốt giữ lại Hoóc Môn. Trưa 30 tháng 4 năm 1975 chúng tôi cùng các đơn vị hành quân tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Chiến tranh kết thúc, đồng đội của chúng tôi có người mãi mãi nằm lại đâu đó trong lòng đất mẹ, có người ở lại phục vụ quân ngũ, có người trở về quê hương. Giờ đây, chúng tôi đều trên 60 tuổi, ấy vậy mà khi gặp nhau, điện cho nhau vẫn sôi động như ngày nào ra trận. Chính từ những ngày tháng gian khổ hào hùng năm xưa là chất kết dính mỗi người chúng tôi dù vị trí khác nhau, điều kiện hoàn cảnh khác nhau vẫn giữ trọn truyền thống quân đội là quyết chiến, quyết thắng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn