Anh hùng Lực lượng vũ trang

Ngày 30/4/1975 qua hồi ức của Trung tướng Phạm Xuân Thệ

Ngày 30/4/1975 qua hồi ức của Trung tướng Phạm Xuân Thệ

Thái Nguyên17/04/2026Trần Ngọc Thảo My (Trường Tiểu học Lương Châu)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trung tướng Phạm Xuân Thệ (SN 1947) sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Khả Phong từng là nơi trú quân của Trung đoàn 66 (Trung đoàn Ký Con) và là căn cứ xuất phát của nhiều đơn vị bộ đội chủ lực vượt phòng tuyến sông Đáy đánh vào vùng địch tạm chiếm trong cuộc kháng chiến chống Pháp.Lúc đó, ông chưa thể biết được có ngày mình chính thức trở thành anh chiến sĩ giải phóng quân, được biên chế ở chính Trung đoàn 66 (Đại đội 11, Tiểu đoàn 9) vào tháng 4/1968, để rồi có mặt ở dinh Độc Lập đúng ngày 30/4/1975, chứng kiến những giây phút trọng đại trong lịch sử dân tộc.

Sau này, khi kể về những năm tháng của cuộc đời quân ngũ trong cuốn “Ký ức thời trận mạc” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - 2011), Trung tướng Phạm Xuân Thệ bộc bạch: “Được biên chế về Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 là một vinh dự lớn với tôi... Tôi thầm hứa sẽ cố gắng phấn đấu để phát huy truyền thống của đơn vị và quê hương mình”.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, bố ông là Phạm Văn Huệ, mẹ là Nguyễn Thị Nghiễm đều phải đi làm thuê cấy rẽ cho địa chủ. Ông là con thứ hai trong gia đình có 5 anh em. Trong kháng chiến chống Pháp, cũng như bao người dân khác, cuộc sống khó khăn bữa cháo bữa rau, ông trải qua những ngày theo cha mẹ gồng gánh chạy càn, chui hầm tránh bom đạn.Từ khi anh trai cả hy sinh, ông đã nuôi ước nguyện được trở thành anh bộ đội cụ Hồ để có thể đi đánh giặc cứu nước. Ngày 15/2/1965, khi chưa đầy 18 tuổi, hưởng ứng phong trào “Thanh niên làm theo lời Bác” và “Thanh niên ba sẵn sàng”, ông tình nguyện lên Yên Bái tham gia xây dựng công trình thủy điện Thác Bà.Trong đó, những ngày tháng lịch sử của Chiến dịch Hồ Chí Minh, với cương vị Trung đoàn phó Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304, Quân đoàn 2), ông đã chỉ huy đơn vị và cùng với các đơn vị khác tiến đánh căn cứ Nước Trong và Tổng kho Long Bình. Trưa ngày 30/4/1975, ông đã áp giải Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, Dương Văn Minh từ dinh Độc Lập đến Đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Kể về những giây phút đầu tiên khi vào đến khu vực dinh Độc Lập sáng ngày 30/4/1975, trong cuốn “Ký ức thời trận mạc” Trung tướng Phạm Xuân Thệ viết: Xe của tôi đi vòng bên trái vào sát tòa nhà. Lúc này, các chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 7 cùng các xe tăng của Lữ đoàn 203 đang tràn vào sân dinh.Khi đi lên bậc thang trên cùng nối vào hành lang, đến sảnh của lầu 1, tôi thấy một người to cao, mặc áo cộc tay màu xám chạy đến trước mặt. Ông giơ tay tự giới thiệu: Báo cáo cấp chỉ huy, tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh - phụ tá của Tổng thống Dương Văn Minh. Toàn bộ nội các của chính quyền ông Minh đang trong phòng họp, mời cấp chỉ huy vào làm việc. Lúc này tôi mới biết toàn bộ nội các của chính quyền Dương Văn Minh đang trong dinh Độc Lập. Vì trước đó tôi nghĩ họ đã bỏ chạy hết khi thấy Quân giải phóng tiến vào và nghĩ vào dinh Độc Lập là chỉ để cắm cờ quyết chiến quyết thắng lên nóc dinh Độc Lập mà thôi.Khi Tổng thống Dương Văn Minh nói: Chúng tôi đã biết Quân giải phóng tiến công vào nội đô, chúng tôi đang chờ Quân giải phóng vào để bàn giao. Theo phản ứng tự nhiên, tôi nghiêm mặt, nói lớn: Các anh là kẻ thất bại, các anh bị bắt làm tù binh, các anh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có bàn giao gì cả! Ai có vũ khí bỏ xuống giao cho Quân giải phóng!Tại Đài phát thanh Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi quân lực cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ Trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao chính quyền từ Trung ương đến địa phương lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Trung tướng Phạm Xuân Thệ tiếp tục công tác trong quân ngũ, nhận nhiều nhiệm vụ với nhiều trọng trách khác cho đến khi nghỉ hưu (năm 2008), trọn vẹn bốn mươi năm tuổi quân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn