Ngày trở về
Đầu năm 1973 hiệp định Paris được kí kết. Đến giữa năm 1973, sau nhiều lần bị thương, đặc biệt mảnh đạn nằm trong phổi làm cho tôi không còn khả năng ở lại chiến trường chiến đấu. Cấp trên cho tôi ra miền Bắc điều trị, kết hợp thăm gia đình.
Một buổi chiều khoác ba lô về tới cổng làng, tôi ngạc nhiên thấy mấy bác, mấy chị đứng gần đó cứ nhìn trân trân. Đang bối rối thì một chị chỉ tay, vội vã chạy về phía tôi, hét toáng lên:
- Bà con ơi! Anh Khải! Anh Khải còn sống trở về đây này!
Bà con tụm lại vây quanh tôi. Tôi còn ngỡ ngàng chưa biết chuyện gì thì một chị khác bước tới bên đưa tay sờ nắn mặt mũi tôi.
- Anh Khải còn sống! Có thật không vậy trời! Thật rồi! Anh về chắc mẹ con cô Phương mừng lắm đây.
Vậy là tôi đã hiểu. Thì ra, trong thời gian tôi lạc đơn vị 8 ngày từ trận đánh tết Mậu Thân, không những đơn vị đã làm lễ truy điệu cho tôi mà còn gửi cả giấy báo tử cho gia đình. Thế mà tôi chẳng hay biết. Mà thời ấy, ở chiến trường, thư từ qua lại khó khăn lắm, thường thì thư gửi đi sáu tháng, có khi, một năm sau mới đến nơi.
Về đến nhà, vừa trông thấy tôi, Phương đứng khựng như trời trồng. Chiếc rá trên tay rơi xuống, những hạt gạo ít ỏi tung tóe trên mặt đất như mừng vui. Miệng Phương lắp bắp:
- Trời ơi! anh K.hả..i…
Rồi Phương chạy đến ôm chầm lấy tôi, nước mắt giàn giụa. Phương thều thào qua vai tôi:
- Anh vẫn còn sống thật ư! Anh!!!
Hai bàn tay Phương vân vê khắp bờ vai, khuôn mặt tôi như tìm dấu tích quen thuộc để chứng minh rằng là tôi, thật là tôi. Bỗng Phương giật mình vùng ra, mặt đỏ lựng.
- Chết, ban ngày ban mặt, ai người ta thấy họ cười chết.
Phương giúp tôi cởi chiếc ba lô.
Gần chín năm xa cách mà trông Phương vẫn như ngày nào, có điều rắn rỏi hơn. Một bé gái chạy đến bên Phương, đôi mắt ngơ ngác rụt rè nhìn tôi.
- Bố đó, chào bố đi con!
- A! Bố đã về! Cô bé lảnh lót reo lên.
Tôi bước đến cúi xuống ôm chầm con gái vào lòng:
- Con gái yêu của bố! Mới ngày nào còn đỏ hỏn mà nay đã lớn thế này à. Bố có quà cho con đây!
Tôi mở ba lô lôi ra một con búp bê và mấy gói kẹo đặt vào tay con gái.
Phương đứng tựa cửa nhìn hai bố con tôi, đôi mắt long lanh, miệng nở nụ cười mãn nguyện. Tôi vẫn ôm bé trong lòng, tay vân vê từng sợi tóc tơ óng mượt bồi hồi ngẩn ngơ. Mới ngày nào, lúc vào Nam chiến đấu nó còn đỏ hỏn, thế mà nay… Giọng Phương cắt ngang dòng suy nghĩ trong tôi:
- Thôi hai bố con vào nhà đi chứ, cứ ngồi mãi ngoài sân ư? Trời sắp tối rồi.
Hai bố con bước vào nhà. Ngôi nhà lá cọ ba gian vách tre nứa trát đất, mái lợp lá cọ. Trong nhà vẫn bài trí như ngày nào. Gian bên trái kê chiếc giường gỗ xoan, được anh chị em góp tiền mua gỗ tặng vợ chồng tôi từ ngày mới cưới nhau. Gian bên phải là buồng ngủ, nhà kho có cửa thông với gian bếp, được ngăn cách bằng tấm rèm vải chéo hoa Nam Định. Gian giữa là nơi đặt bàn thờ gia tiên và phòng khách. Tôi ngước nhìn lên trang thờ, phía sau bát hương là khung hình anh bộ đội còn rất trẻ, vì trời nhập nhoạng tối nên tôi nhìn không rõ mặt người trong ảnh. Thấy tôi chăm chú, Phương khẽ khàng:
- Từ ngày được tin anh hi sinh ở chiến trường, mẹ con em lập trang thờ cúng giỗ anh. Bà con lối xóm trong khu tập thể này thường xuyên lui tới thăm hỏi, giúp đỡ, động viên mẹ con em. Họ tốt lắm anh ạ. À mà cũng sắp tới ngày giỗ lần thứ năm của anh rồi đấy.
Tôi bước đến, soi đèn nhìn cho rõ dòng chữ trong tấm bằng treo trên trang thờ và nhẩm đọc: Bằng Tổ quốc ghi công. Liệt sĩ: Đồng chí Nguyễn Hữu Khải. Quê quán: xã Tiên Phú, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Đã hi sinh trong khi chiến đấu ở mặt trận phía Nam.
- Đời người không ai có thể chết hai lần, duy chỉ có anh thôi đấy. Nghe tôi nói, Phương dùng nắm tay, thụi nhẹ vào lưng tôi mấy cái, miệng liếu riếu:
- Cái anh này, chỉ được cái tiếu.
- À, này em. Tôi nhìn Phương. Anh có ý này, hay là mình biến ngày giỗ sắp tới mà em vừa nói đó thành bữa liên hoan mừng ngày sum họp của vợ chồng mình, mời bà con lối xóm một bữa để trả ơn, em nhé.
- Ý hay đó anh. Phương reo lên!
Hôm đó, bà con lối xóm nghe tin tôi còn sống trở về, họ đến rất đông. Tôi thầm nghĩ: Đúng là tình làng, nghĩa xóm, tối lửa, tắt đèn có nhau. Tôi thầm cảm ơn họ đã động viên, an ủi, giúp đỡ mẹ con Phương khi tôi vắng nhà. Trong số những người hàng xóm đến thăm, có nhiều người còn bán tín, bán nghi. Có phép mầu gì mà đã báo tử rồi, nay lại sờ sờ trở về. Một số cụ bà đòi phải sờ tôi bằng da, bằng thịt mới tin. Có người còn hỏi: Có phải Khải thật đấy không? Tôi thưa:
- Cháu là Khải đây mà. Thật một trăm phần trăm, các bà, các ông ạ!
Rồi tôi kể lại câu chuyện tôi bị thương, lạc dài ngày đến nỗi đơn vị cũng ngỡ tôi hi sinh nên tổ chức lễ truy điệu cho tôi rồi.
Chỉ một ấm chè xanh và mấy đĩa kẹo lạc, mà chúng tôi chuyện trò mãi đến đêm khuya, mọi người mới ra về.
Sáng thức dậy, tôi thấy Phương đứng tần ngần trước trang thờ. Tôi ngạc nhiên:
- Việc gì thế em? Phương nhìn tôi giọng nhẹ nhàng:
- Anh về rồi mẹ con em mừng lắm. Hay là để hôm nay em ra chợ mua ít hương hoa về cúng để cất trang thờ đi anh nhé. Tôi nhìn Phương mỉn cười.
- Không cần đâu em. Để nó lại, coi như một kỉ niệm của người lính đã sống một thời máu lửa chiến tranh, xông pha trận mạc, vào sinh ra tử, có sao đâu.
Tôi bước lại đứng sóng đôi bên Phương, chấp hai tay miệng lẩm nhẩm: Vái anh Hữu Khải trên trang có khôn thiêng thì phù hộ cho Hữu Khải tôi, đang còn sống trên trần gian này luôn khỏe mạnh và mãi yêu Phương trọn đời. Phương huých đầu vào vai tôi khúc khích: Cái anh này!
Chúng tôi cười phá lên, hồn nhiên, tươi trẻ như ngày nào còn tuổi đôi mươi...



