Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nghệ thuật quân sự táo bạo và sáng tạo

Ninh Bình28/04/2026Vu Tâm (Đoàn xã Bình An, tỉnh Ninh Bình)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một ngày đầu tháng 12 lịch sử, tôi tìm đến nhà Trung tướng Nguyễn Đức Soát (nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân) để được nghe ông kể về Chiến dịch phòng không Hà Nội-Hải Phòng 1972 (Linebacker 2). Ông là người đã bắn hạ 6 máy bay Mỹ và được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi mới 27 tuổi.

Trên bàn làm việc, tôi thấy để sẵn những cuốn nhật ký thời chiến, những hình ảnh tư liệu và cả mô hình máy bay MiG-21 mà ông từng lái – chiếc “Én bạc” can trường trên bầu trời Việt Nam. Trung tướng Nguyễn Đức Soát kể: "Có thể nói đây là cuộc tập kích chiến lược lớn nhất, kể từ sau Thế chiến thứ 2. Mỹ đã dùng hơn 200 máy bay ném bom chiến lược B-52, 175 máy bay tiếp dầu trên không, hơn 1.000 máy bay chiến thuật F-4, F-111 và các máy bay hải quân. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán trước được kế hoạch này của Mỹ từ năm 1967, nên quân đội ta đã có sự chuẩn bị kỹ càng."

Cuối năm 1967, khi làm việc với Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống, càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội."

Trước đó, Hồ Chủ tịch cũng đã từng nói: "Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B-57, B-52 hay 'bê' gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa, ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng." Quân đội ta đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B-52 và 5 máy bay F-111, bắt sống 43 phi công Mỹ. Đây là tổn thất lớn chưa từng thấy ở những trận tập kích đường không lớn của quân đội Mỹ.

Mục tiêu của quân đội Mỹ là khiến nhân dân Hà Nội và chính quyền Việt Nam phải hoảng sợ, nhụt chí. Nhưng họ đã không thể ngờ tới chí khí cũng như những dự liệu kỹ lưỡng từ phía ta. Quân đội ta đã xác định rõ muốn giành được thắng lợi cho chiến dịch cần phải khéo léo kết hợp giữa các lực lượng binh chủng, như không quân tiêm kích, pháo cao xạ và tên lửa mặt đất, trong đó chủ lực là phòng không-không quân…

Nhờ đó, quân đội ta đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B-52 và 5 máy bay F-111, bắt sống 43 phi công Mỹ. Đây là tổn thất lớn chưa từng thấy ở những trận tập kích đường không lớn của quân đội Mỹ. Chiến thắng này đã giáng đòn quyết định vào cố gắng cuối cùng của Mỹ, buộc chính quyền Nixon phải ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Cho dù giành thắng lợi, nhưng những thiệt hại mà quân đội Mỹ gây ra tại miền Bắc trong 12 ngày đêm là vô cùng to lớn. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc đã phải hứng chịu hơn 80.000 tấn bom đạn tàn phá, hủy diệt của đế quốc Mỹ. Riêng với Thủ đô Hà Nội, Mỹ đã sử dụng 441 lượt máy bay B-52 cùng hàng nghìn lượt máy bay chiến thuật, ném hơn 10.000 tấn bom hủy diệt nhiều khu phố, làng mạc…Nhớ về những chiến công vang đội của quân và dân trong 12 ngày đêm bom đạn ác liệt ấy, Trung tướng Nguyễn Đức Soát – người đã gắn bó cả cuộc đời với binh nghiệp (43 năm phục vụ trong quân đội và có tới 37 năm trong lực lượng Quân chủng Phòng không-Không quân) cho rằng sức mạnh của bộ đội không quân không chỉ là những chiếc máy bay chiến đấu hiện đại mà yếu tố quyết định làm nên sức mạnh thực sự là một đội ngũ phi công tài ba, dũng cảm, sẵn sàng xả thân vì nước, là một đội ngũ cán bộ chỉ huy có bản lĩnh, luôn vững vàng trước thử thách, luôn khiêm tốn học hỏi để vượt lên chính bản thân.

Theo Trung tướng Nguyễn Đức Soát, Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” thể hiện rõ nét nghệ thuật sử dụng lực lượng và tổ chức hiệp đồng giữa các lực lượng tác chiến của Quân chủng Phòng không-Không quân.

"Chính phương pháp hiệp đồng tác chiến theo khu vực đã tạo được thế trận liên hoàn, có khả năng đánh địch từ xa và không cản trở hỏa lực tên lửa khi địch bay vào vùng sát thương của tên lửa phòng không. Có thể nói, đây là một quyết định táo bạo của Bộ Tư lệnh Quân chủng khi phải đối phó với một đợt tập kích dồn dập và phương tiện thông tin liên lạc giữa các sở chỉ huy còn rất thiếu thốn," Trung tướng Nguyễn Đức Soát khẳng định.

Theo kế hoạch tác chiến, bộ đội tên lửa là lực lượng nòng cốt đánh tiêu diệt máy bay B-52; bộ đội không quân tiêm kích là lực lượng tiến công phá vỡ và gây rối loạn đội hình máy bay địch đồng thời là lực lượng công kích bắn hạ B-52; bộ đội pháo cao xạ đảm nhiệm bắn máy bay tiêm kích và cường kích của địch. Ngoài ra, bộ đội rađa và lực lượng dân quân tự vệ cùng phối hợp chiến đấu. Sự phối hợp tác chiến nhịp nhàng, hiệu quả giữa các lực lượng, các binh chủng và các đơn vị bảo đảm góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch.

Chiến công của Trung tướng Nguyễn Đức Soát và đồng đội đã làm không quân Mỹ nể phục. Sau này, trong một buổi giao lưu hữu nghị giữa cựu phi công Việt Nam và Mỹ, Đại úy John P Cerak, người bị bắn rơi trong trận chiến ngày 27/6/1972, thắc mắc: “Vì sao chúng ta vừa nhìn thấy nhau mà ông lại có thể bắn rơi tôi được?”

Trung tướng Nguyễn Đức Soát giải thích rằng ông đã phán đoán được máy bay địch sẽ hạ độ cao dưới 4.000m để F-4 phát huy lợi thế trước MiG-21. Ông suy nghĩ làm thế nào để vòng ra phía sau F-4 rồi phóng tên lửa mà không bị phát hiện. Thế là, ngay lập tức phi công Nguyễn Đức Soát giảm tốc độ máy bay bằng cách giảm tốc độ vòng quay của động cơ xuống mức thấp nhất, rồi thả cánh cản... Chiếc máy bay MiG-21 khựng lại rồi chỉ vài chục giây sau, chiếc F-4 của Mỹ đã vọt lên phía trước.

Vậy là tướng Soát đã bám được phía sau, ông tăng tốc đuổi theo và phóng tên lửa. Máy bay Mỹ rơi mà phi công vẫn không thể hiểu được tại sao lại bị bắn rơi. Họ vẫn cho rằng đã có một tốp MiG-21 khác bay thấp hơn bắn rơi F-4 chứ không phải chiếc MiG-21 của Trung tướng Nguyễn Đức Soát.

Nhấp một ngụm trà, ông kể thêm một kỷ niệm khác, đó là việc một cựu phi công Mỹ đã từng hỏi: “Ông Soát đã bắn rơi 6 máy bay của chúng tôi. Hẳn ông rất ghét người Mỹ?”

Đáp lại câu hỏi này, tướng Soát trả lời gãy gọn: “Khi chiến đấu, tôi chỉ nghĩ là phải bắn rơi máy bay chứ không nghĩ đến việc bắn chết người phi công. Đó là điều khác biệt giữa trận chiến bộ binh và không chiến. Lính bộ binh bắn vào nhau, còn tôi lúc đó chỉ nhìn thấy chiếc máy bay địch xâm phạm bầu trời quê hương mình.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn