NGỌN ĐÈN KHÔNG BAO GIỜ TẮT GIỮA ĐẤT SEN HỒNG
Có những con người không cần gươm giáo hay những trận đánh vang dội vẫn để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Cuộc đời của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một minh chứng như thế. Người đời biết đến cụ là thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng trên hết, cụ còn là một nhà nho yêu nước, một người thầy thuốc giàu lòng nhân ái và là tấm gương sáng về đức thanh liêm, thương dân. Đặc biệt, những năm tháng cuối đời gắn bó với vùng đất Cao Lãnh, Đồng Tháp đã để lại trong lòng người dân nơi đây biết bao tình cảm kính trọng và biết ơn.
Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1862 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Xuất thân trong một gia đình nghèo, mồ côi cha mẹ từ sớm, cụ hiểu hơn ai hết nỗi vất vả của người dân lao động. Chính hoàn cảnh ấy đã hun đúc trong cụ ý chí học tập và khát vọng dùng tri thức để giúp đời. Sau nhiều năm miệt mài đèn sách, năm 1901, cụ đỗ Phó bảng – một học vị cao trong nền khoa cử thời Nguyễn.
Dù bước vào chốn quan trường, cụ Nguyễn Sinh Sắc không chạy theo danh lợi. Trong thời gian làm quan, cụ luôn đứng về phía những người dân nghèo, nhiều lần xử lý nghiêm những kẻ cậy quyền ức hiếp nhân dân. Chính sự cương trực ấy khiến con đường làm quan của cụ không bằng phẳng. Sau khi rời quan trường, cụ quyết định sống cuộc đời tự do, đi nhiều nơi để bốc thuốc, dạy học và truyền bá tinh thần yêu nước.
Năm 1917, cụ bắt đầu lui tới vùng Cao Lãnh. Đến năm 1927, cụ về sống hẳn tại làng Hòa An, Cao Lãnh, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp. Thay vì chọn một cuộc sống an nhàn sau những biến cố cuộc đời, cụ lại dành trọn những năm tháng cuối đời cho người dân nơi đây. Cụ mở lớp dạy chữ, bốc thuốc Nam chữa bệnh và luôn sẵn sàng giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Với cụ, chữa bệnh không chỉ là cứu một con người mà còn là gieo thêm niềm tin vào cuộc sống.
Người dân Hòa An khi ấy vẫn thường truyền tai nhau về hình ảnh một ông đồ già với dáng người giản dị, chiếc áo dài nâu đã bạc màu, ngày ngày mang theo túi thuốc đi khắp xóm làng. Nhiều người đến xin thuốc nhưng không có tiền trả, cụ vẫn vui vẻ khám bệnh và bốc thuốc miễn phí. Có người mang gạo, trái cây hay vài món quà quê để tạ ơn, cụ cũng chỉ nhận khi thật cần thiết. Điều cụ mong muốn nhất không phải là vật chất, mà là thấy bà con khỏe mạnh, biết yêu thương và đùm bọc lẫn nhau.
Không chỉ chữa bệnh, cụ Nguyễn Sinh Sắc còn thường xuyên trò chuyện với thanh niên, khuyên họ chăm chỉ học tập, giữ gìn đạo đức và nuôi dưỡng lòng yêu nước. Trong bối cảnh đất nước còn chìm dưới ách đô hộ, những lời dạy giản dị ấy đã góp phần khơi dậy tinh thần dân tộc trong lòng nhiều người. Cụ không hô hào bằng những lời lẽ mạnh mẽ, mà âm thầm gieo vào lòng người niềm tin về một tương lai độc lập, tự do.
Những năm tháng sống ở Đồng Tháp tuy không dài nhưng đủ để nhân dân nơi đây cảm nhận được nhân cách lớn lao của cụ. Đó là một con người thanh bạch, không màng danh lợi, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích của bản thân. Chính vì vậy, khi cụ qua đời vào năm 1929 tại làng Hòa An, rất đông người dân đã đến tiễn biệt trong niềm tiếc thương sâu sắc. Họ không chỉ tiễn đưa một nhà nho hay một thầy thuốc, mà còn tiễn đưa một người cha, một người bạn lớn luôn hết lòng vì dân.
Tình cảm ấy không dừng lại ở ngày đưa tang. Trong suốt những năm tháng chiến tranh sau này, người dân Đồng Tháp đã cùng nhau gìn giữ phần mộ của cụ, bảo vệ nơi an nghỉ của cụ qua nhiều biến động của lịch sử. Sau ngày đất nước thống nhất, tỉnh Đồng Tháp đã xây dựng và nhiều lần tôn tạo khu lưu niệm, để hôm nay Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc trở thành một "địa chỉ đỏ", nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.
Thời gian có thể trôi qua, nhiều sự kiện rồi sẽ lùi vào quá khứ, nhưng hình ảnh cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc vẫn sẽ mãi hiện diện trong lòng người dân Đồng Tháp như một ngọn đèn không bao giờ tắt. Ánh sáng của lòng nhân ái, đức thanh liêm và tinh thần phụng sự nhân dân mà cụ để lại sẽ tiếp tục soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đó không chỉ là niềm tự hào của quê hương Đồng Tháp, mà còn là một phần đẹp đẽ trong truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam.



