NGỌN LỬA THIÊNG KHÔNG BAO GIỜ TẮT

Câu chuyện: Người lính trở về từ thời hoa lửa
Tôi gặp bác Hồng trong một buổi chiều mùa thu, nắng vàng trải khắp sân nhà. Bác ngồi tựa vào chiếc ghế gỗ cũ, cánh tay trái chỉ còn một nửa, nhưng ánh mắt thì vẫn sáng và ấm như những người lính năm xưa tôi từng gặp trong những trang sách lịch sử. Nghe bác kể chuyện, tôi thấy như cả một thời hoa lửa đang sống dậy, đau thương, hào hùng và chan chứa tình người.
Câu chuyện dưới đây là những gì tôi đã ghi lại từ lời kể của bác Trần Văn Hồng, sinh năm 1953, quê Hồng Phong, thành phố Hải Phòng, một người lính của đại đội 5 – tiểu đoàn 2 – trung đoàn 101 – sư đoàn 325, đã trực tiếp chiến đấu tại thành cổ Quảng Trị năm 1972 – nơi được xem là “cối xay thịt” của cuộc chiến tranh chống Mỹ.
Tôi còn nhớ bác kể, năm 1972, khi mới 19 tuổi, bác Hồng đang cày dở thửa ruộng thì xã có giấy báo gọi nhập ngũ. Cậu thanh niên gầy nhưng nhanh nhẹn ngày ấy chỉ kịp ôm mẹ một cái thật chặt rồi khoác ba lô lên đường.
“Ngày đó hăng lắm cháu ạ,” bác nói, mắt nhìn xa xăm. “Nghe tiếng gọi Tổ quốc là đi, chẳng ai nghĩ đến chuyện quay về hay không. Chỉ biết rằng đất nước đang cần.”
Bác được bổ sung về đại đội 5, tiểu đoàn 2, trung đoàn 101, thuộc sư đoàn 325. Đơn vị bác hành quân cấp tốc vào miền Trung, nơi chiến sự đang rực lửa tại thành cổ Quảng Trị.
Con đường hành quân là những ngày dài mệt mỏi, đói khát, mưa bom bão đạn, nhưng không ai than một tiếng. Bác bảo:
“Lúc ấy trong lòng chỉ có một điều: Phải vào thật nhanh, phải giữ bằng được mảnh đất Quảng Trị.”
Thành cổ Quảng Trị khi bác đặt chân đến đã biến thành một biển lửa. Bom đạn dội xuống suốt ngày đêm. B-52 cày xới đất thành những hố khổng lồ. Tiếng gào thét của súng máy, pháo 105, pháo 155, tiếng trực thăng, tiếng la hét của thương binh hòa vào nhau thành một âm thanh mà chỉ những người đã từng sống qua chiến trường đó mới hiểu được.
Bác kể:
“Ở thành cổ, sống và chết chỉ cách nhau một hơi thở.
Một đêm một ngày có thể mất cả một tiểu đoàn.
Mà mỗi đại đội lúc đó có 75 người, tiểu đoàn có 3 đại đội… Cháu thử nghĩ xem, chỉ một trận mà hàng trăm người ngã xuống. Đạn không tiếc ai, cả ta lẫn địch.”
Bác nhắc đến bài thơ của Lê Văn Lương:
“Máu chảy thành sông, xương chất thành núi…”
Không chỉ lính giải phóng, mà lính ngụy, lính Mỹ, lính cộng hòa đều nằm lại trong những hố bom. Bác bảo:
“Có những hôm B-52 quần thảo từ sáng đến tối, bom thả xuống là chôn tụi tôi dưới bùn đất. Vừa được đồng đội đào lên, một loạt bom khác lại cày xuống… tụi tôi lại bị vùi tiếp. Như cái vòng luẩn quẩn của tử thần.”
Xác của ba bên quân giải phóng, lính ngụy, lính Mỹ lẫn vào nhau.
Không ai còn phân biệt được nữa.
Chiến tranh đâu có chừa ai.
Bác kể, cái khoảnh khắc ngày ký Hiệp định Paris là điều suốt đời bác không quên.
Hai bên vẫn đang giao tranh ác liệt. Đạn vẫn bay, người vẫn ngã. Nhưng đúng giờ ký, bốn máy bay trực thăng quốc tế bay trên bầu trời giám sát. Bên nào không ngừng bắn đúng giờ sẽ bị xử lý ngay.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
“Đến đúng giờ, súng nó im phăng phắc luôn cháu ạ,” bác cười, nhưng trong tiếng cười là sự nghẹn ngào. “Lính mình với lính ngụy nhìn nhau, ai cũng đứng hình một lúc. Rồi… như bản năng ấy… vứt hết súng xuống. Sướng quá vì không phải giết nhau nữa.”
Có những người vừa hôm qua còn đổi mạng bằng từng tấc đất, hôm nay đứng ôm chặt nhau mà khóc.
“Chiến tranh nó tàn nhẫn vậy. Chúng tôi là lính, nhưng cũng chỉ là những người con của đất nước này thôi.”
Sau năm 1973, có đoạn ranh giới dựng hàng rào phân chia. Buổi chiều 4-5 giờ, lính hai bên ra đứng sát hàng rào… chuyện trò.
“Hỏi nhau quê đâu? Nhà có mấy anh em? Mẹ còn không? Đứa nào cũng nhớ nhà cả.”
Trong chiến tranh, điều lạ lùng nhất chính là những khoảnh khắc nhân tính vẫn sáng lên giữa bóng đêm chết chóc.
Bác còn kể dù bác không trực tiếp tham gia cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở tết Mậu Thân 1968, nhưng bác kể lại với tất cả sự kính trọng:
“Năm ấy Bác Hồ còn sống. Bác đọc bài thơ chúc Tết. Đến câu cuối cùng, toàn bộ quân giải phóng từ miền Nam đến tận mũi Cà Mau đồng loạt nổ súng nổi dậy.”
Tuy có thời điểm chiến thắng, nhưng vì lực lượng mỏng, quân giải phóng không giữ được các vùng đã đánh chiếm.
“Lúc địch quay lại, ta thương vong nhiều lắm… Bác Hồ nghe báo cáo mà khóc. Bác đau vì mỗi người lính là một gia đình, một người mẹ, một người vợ đợi ở nhà.”
Khi bác kể đến đây, bác nghẹn hẳn lại. Nước mắt người lính già rơi xuống chậm rãi.
Bác bảo, sau chiến tranh, bác có nhiều lần ghé Nghĩa trang Trường Sơn.
“Có những quả đồi rộng mênh mông, mỗi đồi là một biểu tượng: Hải Phòng hoa phượng đỏ, Hà Nội tháp Rùa… nhưng phần lớn là mộ vô danh. Vì danh sách đơn vị bị đốt sạch khi rút quân, chẳng thể tìm được tên từng người.”
Bác nhìn tôi, nói chậm rãi:
“Lính hy sinh nhiều đến mức, cháu đứng ở đó mà như nghe tiếng họ gọi. Không biết ai là ai… chỉ biết họ đã nằm lại để cho mình sống.”
Người lính già bỗng trầm ngâm:
“Chúng tôi may mắn hơn nhiều người. Ít nhất còn được trở về.”
Khoảng cuối năm, bác kể đơn vị nhận lệnh:
“Rút toàn bộ quân đoàn 2 và sư đoàn 35 ra Quảng Trị để chuẩn bị sang Lào.”
Tại tổng kho Đông Bình, ngày 21/12, bộ đội Việt Nam được điều sang giúp nhân dân Lào chống bọn phỉ Hoàng Pao và quân Thái Lan phối hợp tấn công ba tỉnh vùng Palakhet.
“Qua bên đó, chúng tôi đánh vài trận thôi là bọn nó tan rã. Quân tình nguyện Việt Nam là chỗ dựa của bạn Lào thời ấy.”
Nhưng chính trong chiến dịch này, bác bị thương nặng.
Một trận pháo kích bất ngờ, bác bị mảnh đạn chém vào cánh tay.
“Còn nhớ lúc ấy đồng đội cõng tôi chạy. Tôi nhìn thấy cánh tay mình chỉ còn dính chút da. Biết là mất rồi…”
Cánh tay ấy, bác không bao giờ lấy lại được.
Bác Hồng được nhà nước trao tặng rất nhiều huân, huy chương:
Huân chương Chiến công Giải phóng
Huy chương Kháng chiến hạng Nhì
Kỷ niệm chương Chiến sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị 1972
Huy chương Quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào
Huân chương Quyết chiến bảo vệ thị xã Thành cổ Quảng Trị 1972
Giấy chứng nhận nạn nhân chất độc da cam/Dioxin Việt Nam
Nhưng bác bảo:
“Mấy cái huân chương đó… không phải của riêng bác đâu cháu. Nó là của những người đã nằm xuống. Còn bác chỉ may mắn sót lại mà giữ hộ họ thôi.”
Bác nói câu ấy bằng giọng khàn đặc, như nỗi niềm chất chứa suốt cả đời.
Chiều muộn, câu chuyện của bác cũng khép lại. Tôi nhìn người lính già ngồi đó, một cánh tay không còn, nhưng trái tim thì còn nguyên vẹn.
Bác nói:
“Nhiều người hỏi bác, nếu được chọn lại, bác có đi nữa không?
Bác nói: Đi. Vì đó là Tổ quốc.
Có chết, cũng chết cho đúng chỗ.”
Tôi cầm tay bác, thấy trong đó là cả một thời đại, một dân tộc, một thế hệ đã sống, chiến đấu, hy sinh không một lời oán trách.
Thời hoa lửa ấy đã qua, nhưng qua lời kể của bác Hồng, nó sáng lên như ngọn lửa không bao giờ tắt.
Câu chuyện này không chỉ là hồi ức của bác Trần Văn Hồng, mà còn là lời tri ân gửi đến tất cả những người lính đã ngã xuống ở Thành cổ Quảng Trị – nơi “một tấc đất một giọt máu”, nơi tuổi trẻ hóa thành bất tử.
Tôi viết lại bằng tất cả sự kính trọng, để những trang đời của bác không bị lãng quên, và để thế hệ sau hiểu rằng độc lập hôm nay được đánh đổi bằng máu của biết bao con người.
Thời hoa lửa – không ai mong nó trở lại, nhưng cũng không ai được phép quên.



