NGỤC TỐI VÀ LỜI THỀ PHÚ QUỐC
Giữa lòng biển đảo Phú Quốc quanh năm sóng vỗ, Trại giam Tù binh Phú Quốc những năm 1967 – 1973 từng được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Nơi đây, chính quyền Mỹ - Ngụy đã giam giữ hơn 40.000 chiến sĩ cách mạng và sử dụng những hình phạt tra tổn dã man vượt qua mọi giới hạn chịu đựng của con người: đóng đinh vào thân thể, chôn sống dưới cát nóng, đục răng, nhốt vào chuồng cọp gai thép dưới cái nắng cháy da cháy thịt...
Mục đích của kẻ thù là dùng sự tàn bạo để đè bẹp lý tưởng, tiêu diệt ý chí chiến đấu của những người cộng sản. Thế nhưng, chính tại nơi ngục tối lạnh lẽo ấy, khí tiết quật cường của những người chiến sĩ cách mạng lại bùng lên rực rỡ hơn bao giờ hết.
Năm 1968, tại Phân khu B2 – nơi giam giữ những cán bộ kiên trung bị địch xếp vào loại "nguy hiểm nhất" – một Đảng ủy lâm thời trong tù đã được thành lập do chiến sĩ Thái Văn Tằng đứng đầu.
Giữa những trận đòn tra tấn tàn khốc, một quyết định lịch sử đã được Đảng ủy B2 đưa ra: Đào một con đường hầm ngầm xuyên qua lòng đất để vượt ngục, trở về với nhân dân, tiếp tục chiến đấu.
Đó là một kế hoạch tưởng chừng như điên rồ và không thể thực hiện. Bao quanh phân khu B2 là hàng chục lớp rào thép gai bùng nhùng gài chuông báo động, bãi mìn dày đặc và hệ thống đèn pha rọi quét liên tục 24/24 giờ từ các chòi gác có lính trang bị súng đại liên.
Nhưng người cộng sản không bao giờ lùi bước. Công cụ đào hầm duy nhất của họ chỉ là những chiếc thìa ăn cơm bằng nhôm đã bị mài mòn, những dải sắt cưa thô sơ nhặt được và chiếc nắp cà-mên hỏng.
Đêm tháng 3 năm 1968, dưới gầm một sạp gỗ nằm sâu trong góc hòm giam, vị trí miệng hầm đầu tiên được xới lên. Miệng hầm chỉ vừa vẻn vẹn một người chui qua, được ngụy trang vô cùng khéo léo bằng một dải gạch lát nền cắt nếp.
Mỗi đêm, khi bọn cai ngục đã ngủ say hoặc lơ đền gác, các chiến sĩ lại luân phiên chui xuống hầm. Trong lòng đất tối om, ngột ngạt và thiếu không khí trầm trọng, họ nằm ngửa hoặc nằm sấp, dùng chiếc thìa nhôm kiên trì cạo từng vốc đất. Đất đào ra được gom vào các túi quần, túi áo thô sơ rồi kéo lên mặt đất.
Xử lý đất đào ra là một bài toán sinh tử. Chỉ cần một vết đất mới bị phát hiện, toàn bộ kế hoạch sẽ sụp đổ và hàng chục người sẽ bị đưa lên máy chém. Bằng sự thông minh kỳ diệu, các chiến sĩ đã chia nhỏ đất đào ra, khói lách mang giấu vào các hố vệ sinh, hoặc hòa tan vào nước rửa chén để xả xuống rãnh thoát nước.
Để chống sạt lở cho con đường hầm sâu 3 mét dưới lòng đất, các chiến sĩ đã hi sinh chính sự thoải mái của mình: Họ chẻ nhỏ những thanh tre thô sơ từ sạp gỗ nằm ngủ của mình để làm cọc chống vách hầm.
Có những đêm, không khí dưới lòng hầm kiệt cùng, ngọn nến nhỏ dùng để thử oxy tắt phụt. Chiến sĩ đào hầm ngất đi vì ngạt thở. Đồng đội phía trên phải dùng mảng áo quạt lấy quạt để đưa từng luồng không khí yếu ớt xuống hầm, cứu sống đồng chí mình rồi lại tiếp tục đào.
Suốt hơn 9 tháng kiên trì bám hầm, ăn cơm nhạt, chịu đòn thù và đào từng cm đất trong điều kiện khốn khổ, một con đường hầm kỳ diệu dài hơn 120 mét đã được hoàn thành. Con đường ấy đâm xuyên qua toàn bộ hệ thống rào thép gai dày đặc, qua bãi mìn địch và trồi lên ngay sát mép rừng sim ngoài phân khu.
Đêm 21 tháng 1 năm 1969. Trời Phú Quốc tối như mực, mưa rừng trút xuống xối xả làm nhòe ánh đèn pha của giặc.
Hiệu lệnh vượt ngục phát ra. Thái Văn Tằng cùng 20 chiến sĩ cách mạng lần lượt chui qua con đường hầm huyền thoại. Bằng sự khéo léo và dũng cảm phi thường, cả 21 người đã vượt qua vòng vây giặc, luồn qua rừng sim an toàn để trở về với căn cứ cách mạng trong sự bàng hoàng và khiếp sợ của bộ máy cai ngục Phú Quốc.
Cuộc vượt ngục Phú Quốc bằng đường hầm ngầm năm 1969 đã đi vào lịch sử như một thiên kỳ tích về lòng dũng cảm, sự kiên trì và trí tuệ Việt Nam.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Trại giam Tù binh Phú Quốc hôm nay đã trở thành Di tích Lịch sử Quốc gia đặc biệt. Con đường hầm ngầm năm xưa vẫn được giữ gìn nguyên vẹn – nơi mỗi du khách bước xuống đều không khỏi nghẹn ngào trước sức mạnh phi thường của con người thời hoa lửa.
"Ngục tối và lời thề Phú Quốc" là bằng chứng bất tử khẳng định một sự thật: Ngục tù và sự tàn bạo của kẻ thù chỉ có thể giam cầm thân xác, chứ không bao giờ xiềng xích được lý tưởng, ý chí kiên trung và khát vọng tự do cháy bỏng của những người con yêu nước Việt Nam. Tinh thần ấy mãi là ngọn đuốc thắp sáng lòng tự hào dân tộc, nhắc nhở thế hệ hôm nay luôn sống, học tập và cống hiến sao cho xứng đáng với những hy sinh vô giá của thế hệ cha anh.



