NGƯỜI ANH HÙNG CẮM CỜ TRÊN CỬA NGÕ MƯỜNG THANH: CHUYỆN VỀ ÔNG TRẦN CAN
Bác Trần Can sinh năm 1931, là người dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông nội kể rằng, thuở ấy thanh niên Nghệ An ra trận đông lắm, ai cũng mang trong mình cái chất "đồ Nghệ" kiên trung, gan góc. Bác Can vào bộ đội, trở thành Đảng viên và sớm bộc lộ tư chất của một người chỉ huy mưu lược.
Đêm đã về khuya, tiếng gió rít qua khe cửa như gợi nhắc về những ngày đông giá rét trên chiến trường năm xưa. Ông nội khẽ khàng lật mở cuốn sổ tay bạc màu, nơi có những dòng chữ nắn nót ghi lại tên những đồng đội đã ngã xuống. Ông kéo cháu lại gần, chỉ vào một cái tên được gạch dưới bằng mực đỏ: Trần Can. Giọng ông nghẹn lại, đầy tự hào: "Cháu ạ, nếu không có những người như bác Trần Can, có lẽ niềm vui ngày 7 tháng 5 năm ấy đã không thể trọn vẹn. Bác ấy là 'con hổ' của Trung đoàn 209, người đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng khi bình minh chiến thắng vừa kịp rạng rỡ trên cánh đồng Mường Thanh."
Đêm đã về khuya, tiếng gió rít qua khe cửa như gợi nhắc về những ngày đông giá rét trên chiến trường năm xưa. Ông nội khẽ khàng lật mở cuốn sổ tay bạc màu, nơi có những dòng chữ nắn nót ghi lại tên những đồng đội đã ngã xuống. Ông kéo cháu lại gần, chỉ vào một cái tên được gạch dưới bằng mực đỏ: Trần Can. Giọng ông nghẹn lại, đầy tự hào: "Cháu ạ, nếu không có những người như bác Trần Can, có lẽ niềm vui ngày 7 tháng 5 năm ấy đã không thể trọn vẹn. Bác ấy là 'con hổ' của Trung đoàn 209, người đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng khi bình minh chiến thắng vừa kịp rạng rỡ trên cánh đồng Mường Thanh."
Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bác đã kinh qua biết bao trận đánh, nhưng tên tuổi của bác chỉ thực sự rạng danh khi bước vào chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ với cương vị Đại đội phó bộ binh thuộc Đại đoàn 312. Ông nội trầm ngâm: "Người ta nhớ về Trần Can không chỉ bởi cấp bậc, mà bởi mỗi khi bác ấy xuất hiện ở đâu, ở đó quân địch phải bạt vía kinh hồn."
Trận đánh đồi Him Lam mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ là phép thử đầu tiên cho lòng quả cảm. Đêm 13 tháng 3 năm 1954, dưới làn hỏa lực dữ dội của quân Pháp bắn ra từ các lô cốt kiên cố, bác Trần Can được giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội đánh thọc sâu.
Ông nội mô tả lại khung cảnh ấy như thể nó vừa mới diễn ra hôm qua:"Giữa tiếng đại bác gầm vang làm rung chuyển cả núi rừng, bác Can hiên ngang dẫn đầu tiểu đội, băng qua hàng rào dây thép gai và những bãi mìn dày đặc. Bác ấy như một mũi tên lao thẳng vào sở chỉ huy địch. Hình ảnh bác Can cắm lá cờ quyết chiến quyết thắng lên nóc lô cốt tiền duyên đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh của quân đội ta. Không chỉ chiếm được cứ điểm, bác còn chỉ huy anh em bắt sống 25 tên địch, thu giữ vô số vũ khí. Trận ấy, tên tuổi Trần Can lừng lẫy khắp mặt trận."
Nhưng câu chuyện bi tráng nhất mà ông nội muốn cháu ghi nhớ chính là trận đánh tại điểm cao 507 – cánh cửa thép cuối cùng ngăn cách quân ta với trung tâm Mường Thanh. Đây là nơi diễn ra những cuộc giằng co ác liệt nhất giữa ta và Pháp. Hai bên giành giật từng mỏm đá, từng đoạn chiến hào.
Đơn vị của bác Can đã kiên cường chống trả 4 đợt phản kích điên cuồng của địch. Đến lần thứ 5, quân Pháp ném lựu đạn xối xả trước khi xung phong. Trong giây phút sinh tử, bác Can đã làm một việc mà sau này quân địch cũng phải khiếp sợ: Bác nhặt những quả lựu đạn chưa kịp nổ của địch và ném ngược trở lại, rồi dẫn đầu anh em xông lên đánh giáp lá cà."Khi ấy, đại đội của bác thương vong gần hết, bản thân bác cũng bị thương nặng," ông nội rớm lệ, "nhưng bác không rời trận địa. Sáng sớm hôm sau, bác nén đau đớn, tập hợp những thương binh nhẹ lại, động viên anh em: 'Chúng ta còn sống là còn chiến đấu, không để địch chiếm lại cửa ngõ này!'. Sự kiên cường của bác đã giữ vững trận địa, tạo bàn đạp cho quân ta tổng tấn công vào hầm Đờ Cát."
Điều đau xót nhất trong câu chuyện của ông nội chính là thời điểm bác Trần Can hy sinh. Đó là sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954 – đúng cái ngày mà lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm chỉ huy quân Pháp, kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ.
Bác đã ngã xuống khi chỉ còn cách giờ phút toàn thắng vài tiếng đồng hồ. Bác không kịp nghe tiếng hò reo mừng chiến thắng, không kịp thấy quân địch kéo cờ trắng ra hàng. Nhưng ông nội bảo: "Cháu đừng buồn, bác Can hy sinh nhưng bác ấy đã hóa thân vào chiến thắng. Máu của bác đã thấm vào lòng đất Điện Biên để hoa ban nở trắng rừng, để con đường vào Mường Thanh hôm nay rộng mở."
Với những chiến công hiển hách, bác Trần Can đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Những tấm Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công hạng Nhất trên ngực áo bác là minh chứng cho một đời tận trung với nước.
Hôm nay, tên của bác không chỉ nằm trong sử sách mà còn hiện hữu trên những con đường, những ngôi trường ở Điện Biên Phủ, Đà Nẵng và nhiều nơi khác. Mộ của bác nằm bình yên tại Nghĩa trang A1, nhìn xuống cánh đồng Mường Thanh mà năm xưa bác đã dùng cả mạng sống để bảo vệ.
Ông nội nắm lấy tay cháu, giọng dặn dò thiết tha:"Cháu hãy nhìn những con đường mang tên Trần Can. Mỗi khi đi qua đó, hãy nhớ rằng hòa bình này được đổi bằng tuổi trẻ của những người như bác ấy. Bác Can hy sinh khi mới 23 tuổi – cái tuổi đẹp nhất của đời người. Sự vinh danh lớn nhất dành cho bác không phải là những tượng đài bằng đá, mà là sự tiếp nối ý chí của thế hệ các cháu. Hãy sống sao cho xứng đáng với người anh hùng đã ngã xuống ngay ngưỡng cửa của hòa bình."
Câu chuyện của ông nội về người anh hùng Trần Can đã khép lại, nhưng ngọn lửa trong lòng cháu lại bùng cháy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Chúng cháu hiểu rằng, lịch sử dân tộc được viết nên bằng máu xương của những con người bình dị nhưng vĩ đại như thế.
Lắng nghe người đi trước kể chuyện, chúng cháu nhận ra trách nhiệm của mình: Phải học tập, lao động và cống hiến để gìn giữ mảnh đất mà các bác, các chú đã đánh đổi bằng cả cuộc đời. Bác Trần Can sẽ mãi là tấm gương sáng về lòng dũng cảm, về tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Dù thời gian có trôi đi, hình ảnh người chiến sĩ cắm cờ trên lô cốt Him Lam và kiên cường trên điểm cao 507 sẽ vẫn luôn là khúc tráng ca bất tử trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam.


