Người có công giúp đỡ cách mạng

Người có công giúp đỡ cach mạng

ài viết chủ đề: “Những câu chuyện thời hoa lửa” Một thời hoa lửa đã đi qua, để lại cho nhân dân Việt Nam những nỗi buồn, những mất mát, những thiệt hại về cả thể xác lẫn tinh thần, nhưng đan xen cùng những điều tiêu cực ấy là những điều tích cực , đó là hòa bình, là độc lập tự do, là hạnh phúc khi được làm chủ cuộc sống, làm chủ đất nước của nhân dân. Để có được sự tự do hạnh phúc ấy, đã có rất nhiều chiến sĩ, nhiều thanh niên xung phong, những nhà hoạt động cách mạng... đã anh dũng hy sinh.

Thái Nguyên14/04/2026Nguyễn Mai Trang (Trường Ngoại Ngữ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
ài viết chủ đề: “Những câu chuyện thời hoa lửa”

Một thời hoa lửa đã đi qua, để lại cho nhân dân Việt Nam những nỗi buồn, những mất mát, những thiệt hại về cả thể xác lẫn tinh thần, nhưng đan xen cùng những điều tiêu cực ấy là những điều tích cực , đó là hòa bình, là độc lập tự do, là hạnh phúc khi được làm chủ cuộc sống, làm chủ đất nước của nhân dân. Để có được sự tự do hạnh phúc ấy, đã có rất nhiều chiến sĩ, nhiều thanh niên xung phong, những nhà hoạt động cách mạng... đã anh dũng hy sinh. Câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của họ đều rất oanh liệt và xúc động mỗi khi được kể. Nhân chứng lịch sử mà tôi cảm thấy ấn tượng nhất đó chính là nhà hoạt động cách mạng và quân sự Trần Đăng Ninh.

Đồng chí Trần Đăng Ninh sinh năm 1910 và mất năm 1955, tên thật là Nguyễn Tuấn Đáng. Đồng chí quê tại thôn Quảng Nguyên, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông, nay là thôn Quảng Nguyên, xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội. Đồng chí là nhà hoạt động cách mạng và quân sự, Chủ nhiệm đầu tiên của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Chủ nhiệm đầu tiên của Tổng cục Cung cấp giai đoạn 1950 – 1955 (nay là Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật). Huân chương Sao Vàng và ông còn là con người có công lớn trong cách mạng.

Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là một phần vô cùng quan trọng và oanh liệt. Năm 1935, với khí chất, kiên cường, bản lĩnh của một thanh niên yêu nước, không chịu cảnh lầm than, nô lệ, khi làm công nhân tại Nhà in Lê Văn Tân, đồng chí đã sớm giác ngộ Chủ nghĩa cộng sản và tham gia cách mạng. Năm 1936, đồng chí tham gia Phong trào Đông Dương Đại hội, được cử vào Ban Chấp hành Nghiệp đoàn ái hữu thợ in Hà Nội. Tháng 7/1936, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Với ánh sáng soi đường của chủ nghĩa cộng sản, cùng trái tim nhiệt huyết của người chiến sĩ cách mạng và năng lực công tác xuất sắc, cuối năm 1939, khi chưa tròn 30 tuổi, đồng chí đã được chỉ định vào Thành ủy Hà Nội. Năm 1940 tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ. Tháng 9/1940, khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, được Xứ ủy cử lên lãnh đạo phong trào Bắc Sơn. Tháng 5/1941, tại Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 7/1941, đồng chí được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Ngày 21/11/1941, đồng chí bị giặc Pháp bắt và giam tại nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội. Cuối năm 1942, bị phát vãng lên nhà lao Sơn La, nơi rừng sâu, núi thẳm với ý đồ của thực dân Pháp hòng bóp nghẹt ý chí cách mạng của người chiến sĩ cộng sản. Mặc dù bị giặc Pháp giam cầm, tra tấn dã man, đầy qua 2 nhà lao Hỏa Lò, Sơn La, song với khí chất của người cộng sản, kiên định lý tưởng cách mạng, đồng chí vẫn bí mật tham gia hoạt động trong Ban đấu tranh nhà lao Hỏa Lò và vào Ban Chấp hành Chi bộ đặc biệt ở nhà lao Sơn La. Giữa năm 1943, đồng chí vượt ngục trốn khỏi nhà lao Sơn La, sau khi bắt liên lạc lại với cách mạng, được Trung ương chỉ định hoạt động cùng đồng chí Hoàng Quốc Việt trong Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ. Tháng 12/1943, đồng chí bị địch bắt lần thứ hai và giam tại nhà lao Hỏa Lò. Đêm ngày 9/3/1945, lợi dụng thời cơ Nhật đánh Pháp, đồng chí đã vượt ngục nhà lao Hỏa Lò và tiếp tục hoạt động. Tháng 4/1945, được cử vào Ủy ban Quân sự Bắc kỳ.Tháng 5/1945, được cử tham gia Bộ Tư lệnh đầu tiên của Việt Nam Giải phóng quân. Tháng 8/1945, được cử vào Ủy ban Tổng khởi nghĩa. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được chỉ định vào Ban Chấp hành Tổng bộ Việt Minh. Cuối năm 1946, sau khi giặc Pháp phá bỏ Hiệp ước sơ bộ được ký kết ngày 6/3/1946, giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến; cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, đồng chí Trần Đăng Ninh được Trung ương giao nhiệm vụ phụ trách việc bố trí, di chuyển các cơ quan của Đảng và Chính phủ lên Việt Bắc; làm phái viên của Chính phủ, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao cho nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước; phái đi giải quyết nhiều việc quan trọng, nhiều nhiệm vụ đặc biệt, có liên quan đến một số chính sách của Đảng như: Việc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc; chính sách dân tộc; chính sách tôn giáo và chính sách đối với nhân sĩ, trí thức… Giữa muôn vàn khó khăn, gian khổ của một Đảng vừa giành được chính quyền đã phải bước vào cuộc kháng chiến cứu quốc, song Trung ương Đảng luôn chú trọng tới công tác xây dựng Đảng; coi trọng công tác kiểm tra để giữ nghiêm kỷ luật Đảng. Ngày 16/10/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Quyết nghị số 29-QN/TW, do đồng chí Thận (tức đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng ký) thành lập Ban Kiểm tra Trung ương, đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng được giao trọng trách làm Trưởng ban Kiểm tra Trung ương- cơ quan kiểm tra chuyên trách đầu tiên của Đảng. Sau khi Ban Kiểm tra Trung ương được thành lập, với vai trò là Trưởng Ban Kiểm tra, đồng chí Trần Đăng Ninh, cùng Ban Kiểm tra Trung ương, các ban kiểm tra khu ủy, liên khu ủy (sau một thời gian được thành lập) đã thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ quan trọng của Trung ương và các cấp ủy giao. Ở Trung ương có những vụ việc quan trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp giao cho đồng chí Trần Đăng Ninh, cùng một số cán bộ thực hiện. Năm 1949, đồng chí tham gia Đảng đoàn Mặt trận dân tộc thống nhất, được bổ nhiệm làm Phó Tổng thanh tra của Chính phủ và được cử vào Ban Giám sát Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Năm 1950, đồng chí được phái sang Trung Quốc đặt quan hệ và yêu cầu bạn chi viện cho cuộc kháng chiến của Việt Nam. Sau khi về nước, đồng chí được giao nhiệm vụ đặc phái viên của Chính phủ, phụ trách công tác cầu đường và vận tải phục vụ tiền tuyến. Tháng 7/1950, đồng chí được cử làm Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, Bộ Quốc phòng. Năm 1951, đồng chí được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; tiếp tục phụ trách công tác hậu cần trong quân đội. Tuy nhiên, do mắc bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã mất vào tháng 10/1955, để lại nhiều thương tiếc cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước. Ghi nhận những đóng góp lớn lao của đồng chí Trần Đăng Ninh với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, Đảng và Nhà nước đã truy tặng đồng chí Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Sao Vàng.

Những vụ việc điển hình và kinh nghiệm “thẩm tra, xác minh” trong xem xét, giải quyết vụ việc. Mặc dù là Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương chỉ trong 2 năm (từ tháng 10/1948 đến cuối năm 1950), nhưng đồng chí Trần Đăng Ninh cùng Ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra, xử lý nhiều vụ việc quan trọng, khó khăn, phức tạp, điển hình là vụ tình nghi “Gián điệp H122”. Hay vụ “Hóa chất miền Nam” ở Liên khu IV liên quan đến trí thức Việt kiều ở Pháp theo Bác Hồ về nước cuối năm 1946, đồng chí đã chỉ đạo đoàn kiểm tra tại chỗ, xác định rõ sự thật, giải oan cho đồng chí kỹ sư này. Vụ việc thuyết phục giám mục Lê Hữu Từ ở Phát Diệm, Ninh Bình; vụ việc thuyết phục “Vua Mèo” Vương Chí Sình, ở Đồng Văn, Hà Giang ủng hộ và tham gia cách mạng kháng chiến. Đặc biệt, vụ án Trần Dụ Châu, Cục Trưởng Cục Quân nhu tham ô và dung túng cho cấp dưới làm sai trái, trở thành vụ án nổi tiếng thời chống Pháp và Tòa án quân sự đã xét xử Trần Dụ Châu với mức án cao nhất… Những vụ việc đồng chí trực tiếp xử lý vẫn còn để lại nhiều bài học quý và được nhắc đến ngày nay. Nhiều thế hệ vẫn nhắc đến đồng chí Trần Đăng Ninh với sự kính trọng về một con người chí công vô tư, luôn phân xử đúng, sai rất nghiêm minh, có tình có lý. Chính vì thế, đồng chí Trần Đăng Ninh được nhân dân đặt cho biệt hiệu “Bao Công” của Việt Nam.

Tôi có hai điều rất đáng tự hào, đó là: quê của bản thân bên cạnh quê của đồng chí Trần Đăng Ninh, và trong suốt ba năm trung học phổ thông, tôi được học tập dưới mái trường mang tên đồng chí. Vậy nên chúng tôi thi thoảng sẽ dành ra ngày thứ hai đầu tuần để nghe thầy cô kể về cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Trần Đăng Ninh, và những kinh nghiệm, bài học rút ra được từ tấm gương Trần Đăng Ninh. Tôi cảm thấy mỗi lần như vậy đều rất có ý nghĩa và tính giáo dục rất cao.

Đồng chí Trần Đăng Ninh để lại cho tôi rất nhiều ấn tượng, cũng như bài học và những niềm tự hào. Tự do, hòa bình không dễ gì có được, đó là sự hi sinh xương máu của rất nhiều thanh niên, nhiều cán bộ chiến sĩ. Vậy nên chúng ta- những người trẻ phải biết, phải hiểu để thấy tự hào, thấy tôn trọng, thấy hạnh phúc, thấy biết ơn độc lập tự do ngày hôm nay. Với những người đã khuất thì nỗi đau của thân nhân họ sẽ còn mãi, còn với những người đã từng tham gia chiến tranh thì nỗi đau về tinh thần, nỗi mất mát về thân thể sẽ còn mãi. Hẳn là bạn đã từng xem được những thước phim về những cụ cựu chiến binh bị vấn đề về tâm lý, đó là hậu quả của chiến tranh, là căn bệnh mà mãi mãi không thể chữa khỏi. Chúng ta phải biết ơn thay vì dè bỉu, khinh thường họ. Tôi và bạn được sống trong hòa bình, hạnh phúc như hôm nay là nhờ có họ. Vậy nên tôi, bạn, những người trẻ chúng ta phải biết ơn và cùng nhau chung tay tiếp nối sự nghiệp làm giàu đẹp đất nước bạn nhé!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn