Cựu chiến binh

Người cựu chiến binh nhiều lần được trao tặng huân, huy chương - Hồ Ngọc Khánh

Mặc dù đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng cựu chiến binh Hà Ngọc Khánh, 95 tuổi vẫn rất minh mẫn, đôi mắt tinh nhanh, giọng nói hào sảng mang khí phách của người lính trinh sát năm xưa.

Thái Nguyên14/03/2026Viện Quốc tế Giáo dục và Đổi mới (Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Dưới đây là bài viết đã được gộp lại thành một bài hoàn chỉnh, mạch lạc và phù hợp kiểu bài báo/ghi chép nhân vật:

“Ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam” – ký ức hào hùng của cựu chiến binh Hà Ngọc Khánh

Bên ngôi nhà nhỏ, giản dị ở thôn 8, xã Đức Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, cựu chiến binh Hà Ngọc Khánh (sinh năm 1929) chậm rãi kể lại những ký ức của một thời khói lửa. Dù đã ở tuổi 95, giọng ông vẫn rõ ràng, mạch lạc khi nhắc về những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ nhưng vô cùng hào hùng của thế hệ mình.

Năm 1948, khi vừa tròn 19 tuổi, địa phương có đợt tuyển quân. Trước tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông tình nguyện đăng ký nhập ngũ, lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước.

Sau khi được tuyển chọn, ông được cử đi học tại Trường Đào tạo sĩ quan Liên khu 4. Đầu năm 1949, sau khi hoàn thành khóa huấn luyện, ông được điều động về Phòng Tham mưu, Đại đội 203, Đại đoàn 325 – một trong sáu đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuối năm 1949, khi thực dân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng nhằm phá thế liên hoàn của ta, nhận thấy ông có nhiều tố chất phù hợp với công tác tình báo, đơn vị đã phân công ông hoạt động bí mật, nằm vùng tại Bắc Thừa Thiên Huế.

Gần một năm sau, trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều chuyển biến thuận lợi cho cuộc kháng chiến của quân và dân ta, Đảng ta chủ trương chuẩn bị lực lượng để chuyển sang tổng phản công. Lúc này, ông được giao nhiệm vụ ra Quảng Trị, hoạt động bí mật tại nhà thờ La Vang – một trung tâm hành hương lớn của người Công giáo Việt Nam thời bấy giờ.

Ông kể rằng, đối với người lính trinh sát, nhiệm vụ luôn được quán triệt theo nguyên tắc “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động, ông luôn nhắc mình phải “tai thính, mắt tinh, mũi nhạy”, giữ vững sự gan dạ, bình tĩnh và không lùi bước trước bất kỳ hoàn cảnh nguy hiểm nào.

Để có thể hoạt động thuận lợi trong vùng địch và tránh bị phát hiện, ông nhanh chóng thích nghi với phong tục, tập quán của người dân Quảng Trị. Ban ngày, ông cải trang hòa mình vào cuộc sống của người dân, làm nhiều công việc khác nhau như chăn trâu, cắt tóc, lái xe… Ban đêm, ông bí mật vào thị xã để nắm bắt và thu thập thông tin về hoạt động của địch.

Năm 1952, khi lực lượng vũ trang Quảng Bình mở nhiều cuộc tiến công vào các vị trí quan trọng của địch, ông được điều ra hoạt động bí mật tại sân bay Đồng Hới để nắm tình hình. Trong thời gian này, ông luôn bám sát địch, bám sát nhân dân, thu thập thông tin về hoạt động của đối phương, góp phần giúp lực lượng ta chủ động mở nhiều đợt tiến công, giải phóng các khu vực Sen Bàng, Ba Đồn, Mỹ Hòa, mở rộng vùng tự do.

Tháng 9/1953, đơn vị của ông nhận lệnh rút về huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) để chỉnh quân, chuẩn bị bước vào chiến cuộc Đông – Xuân 1953 – 1954. Đây là giai đoạn quan trọng nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phân tán lực lượng cơ động chiến lược của chúng, hỗ trợ cho chiến dịch Điện Biên Phủ và làm thất bại Kế hoạch Nava.

Cuối tháng 11/1953, ta mở Chiến dịch Trung Lào với mật danh “Mặt trận D”. Tham gia chiến dịch có một số trung đoàn của Đại đoàn 304, Đại đoàn 325, các đơn vị tình nguyện từ Liên khu 4, Liên khu 5 cùng lực lượng Pathet Lào. Trong chiến dịch này, ông Hà Ngọc Khánh được giao nhiệm vụ trinh sát, theo dõi sát tình hình địch từ địa hình, cách bố trí hỏa lực đến số lượng quân và sự di chuyển hằng ngày của chúng để báo cáo kịp thời cho cấp trên.

Trong quá trình hoạt động, ông cùng đồng đội không quản ngại khó khăn, sát cánh với lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc Lào vừa chiến đấu vừa tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng cơ sở cách mạng. Một kỷ niệm mà ông nhớ mãi là lần cùng hai đồng đội luồn sâu phục kích và bắt được một tù binh Âu – Phi, từ đó khai thác được nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho các trận đánh tiếp theo. Với thành tích này, ông đã được khen thưởng tại tỉnh Savannakhet (Lào).

Đến năm 1954, Trung đoàn 270 được thành lập thay Đại đoàn 325 với nhiệm vụ phối hợp cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng Bình – Trị – Thiên. Sau khi đơn vị ổn định tổ chức, ông Hà Ngọc Khánh được phân công giữ chức Chủ nhiệm trinh sát Trung đoàn 270. Tại đây, ông cùng đồng đội sát cánh với quân và dân các huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy (Quảng Bình)Gio Linh, Vĩnh Linh (Quảng Trị) thực hiện nhiều trận đánh táo bạo, góp phần mở rộng vùng giải phóng ở Nam Quảng Bình và Bắc Quảng Trị, đóng góp vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kết thúc bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn 270 được giao nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự và Đặc khu Vĩnh Linh. Trong thời gian này, ông được điều về giữ chức Trưởng ban Trinh sát và đặc công của Đặc khu Vĩnh Linh.

Trải qua những năm tháng huyền thoại “ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam”, ông đã cùng quân và dân ta đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, góp phần làm thất bại chiến lược quân sự của Mỹ ở miền Nam và đóng góp vào thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.

Từ năm 1970 đến 1975, ông được cử ra Hà Nội học nâng cao về công tác tham mưu và sau đó được giữ lại làm giáo viên tham mưu quân báo tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Giai đoạn 1975 – 1979, ông tiếp tục công tác với vai trò giảng viên tại Học viện Lục quân Đà Lạt. Từ 1979 đến 1984, ông đảm nhiệm các chức vụ Trưởng phòng Quân báo Quân đoàn 7Trưởng phòng Quân báo Quân đoàn 68, góp phần giúp các đơn vị nắm chắc tình hình, xây dựng kế hoạch tác chiến và giữ vững địa bàn.

Năm 1984, ông được điều về làm giáo viên Trường Quân sự Quân khu 4 và đến năm 1985 thì nghỉ hưu.

Sau khi rời quân ngũ, trở về với cuộc sống đời thường, ông tiếp tục tích cực tham gia các hoạt động tại địa phương. Khi Hội Cựu chiến binh xã Đức Sơn được thành lập năm 1989, ông là một trong những hội viên đầu tiên và được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã, đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh huyện Anh Sơn khóa đầu tiên.

Hiện nay, dù tuổi cao sức yếu, ông vẫn luôn giáo dục con cháu về truyền thống gia đình, khuyến khích các thế hệ trẻ không ngừng học tập, lao động và sống có trách nhiệm với xã hội.

Trong suốt quá trình chiến đấu và công tác, ông nhiều lần được Đảng và Nhà nước trao tặng các phần thưởng cao quý như Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, cùng nhiều huy chương và phần thưởng khác.

Nhắc lại những năm tháng chiến tranh, ông xúc động chia sẻ:

“Chiến tranh đã kết thúc lâu rồi, nhưng tôi chưa bao giờ quên những năm tháng hào hùng và gian khổ ấy. Nhiều đồng đội của tôi đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Trải qua sinh tử mà còn được sống đến hôm nay, tôi thấy mình thật may mắn và luôn tự nhủ phải sống thật tốt để không phụ lòng đồng đội.”

Ở tuổi 95, cựu chiến binh Hà Ngọc Khánh đã trải qua biết bao gian khổ, hiểm nguy trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng như trên chiến trường nước bạn Lào, cùng đồng đội lập nên nhiều chiến công đáng tự hào.

Ngày nay, niềm vui lớn nhất của ông là được chứng kiến con cháu trưởng thành. Trong ngôi nhà của mình, ông dành riêng một gian phòng để treo trang trọng những tấm huân, huy chương – minh chứng cho một cuộc đời cống hiến vì Tổ quốc. Đặc biệt, năm 2025, ông vinh dự được nhận Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Cựu chiến binh Hà Ngọc Khánh thực sự là tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần cống hiến và phẩm chất của người lính Cụ Hồ, để các thế hệ trẻ hôm nay học tập và noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn