NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ
NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ
“NGƯỜI MẸ NÀO CŨNG GIỮ CON, LẤY AI CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC”.
“ Chín bát mỗi bát một màu,
Bát hương đặt giữa nỗi đau quặn lòng!”
Câu nói vang lên như lời chan chứa nỗi lòng, hòa cùng dòng suy nghĩ là những hình ảnh người mẹ đang ngồi giữa mâm cơm đạm bạc. Chín cái bát, chín đôi đũa, nhưng chỉ riêng mình mẹ lặng lẽ đợi cơm con. Còn gì đau đớn hơn khoảnh khắc nhận giấy báo tử của cả chín người con. Chín lần tiễn con ra trận, chín lần nhận giấy báo tử. Mẹ tiễn con đi với đủ hình hài, ngày trở về con đã hoá thành bóng dáng đất nước, quê hương. Mẹ Nguyễn Thị Thứ - người mẹ anh hùng ấy đã sống một đời như thế - lặng lẽ mà có cả hòa bình.
Có lẽ đã có nhiều người từng nghe tới, các con các cháu của Mẹ Thứ đều lần lượt hiến dâng cuộc đời cho non sông xứ sở. Đặc biệt, người con cả - Lê Tự Chuyển của Mẹ đã hi sinh lúc 9 giờ sáng ngày 30/4/1975. Anh hy sinh ngay cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ trước vài giờ Đất nước vẹn hình, chỉ trước vài giờ người con có thể ôm lấy mẹ vào lòng và nói: “Con đã trở về với Mẹ”. Người con ấy đã không được cất lên tiếng long đã hằn sâu trong lòng trông mong được cất lên tiếng gọi “Mẹ ơi”.
Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ (SN 1904, theo giấy căn cước chế độ cũ Mẹ sinh năm 1902) tại xóm Rừng thuộc thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Khi lớn lên lập gia đình, Mẹ Thứ sinh hạ được 12 người con. Năm 1949, cùng lúc Mẹ nhận được 3 giấy báo tử của các con đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tiếp đó, 6 người con của Mẹ tham gia chiến tranh chống Mỹ cũng lần lượt hy sinh. Trong thời điểm ấy, Mẹ Thứ lại nhận được giấy báo tử của con rể và cháu ngoại. Giờ khắc đấy, Mẹ Thứ đã mất đi đứa con mình đứt ruột đẻ đau, chín tháng mười ngày mẹ hiến dâng con cho Tổ Quốc. Đó là hành trình mang thai, sinh nở, nuôi dưỡng, là ngày tiễn con ra chiến trường với lời hẹn “ Khi chiến tranh kết thúc, đạm bom ngừng rơi, con sẽ về với mẹ”.
Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng (VNAH) khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ. Như vậy gia đình mẹ Thứ có 12 liệt sĩ. Thật sự hiếm có người mẹ nào gánh chịu nhiều đau khổ như Mẹ Thứ. Mẹ đã khóc, đã đau cả vạn lần, đó là những nỗi đau không thể khắc họa lại. Bao lần tiễn đưa chồng, đưa con là bao lần trái tim mẹ nhói lên. Có lẽ, mẹ biết sự khốc liệt của chiến tranh chính là sự đánh đổi và hy sinh, con đi không biết ngày về nhưng mẹ vẫn nuốt nước mắt vào lòng để tiễn đưa gần chục đứa con. “Nước mắt mẹ không còn, để khóc những đứa con…” Mẹ đã không còn mong cầu thấy đứa con mình trở về, bởi mẹ nhìn thấy những đứa con của mình đang cùng Đất nước xây hình, đổi trạng.
“Người mẹ tiễn con đi không phải vì thương con, mà vì thương Tổ quốc”
Trong cùng một năm 1948, Mẹ Thứ lần lượt nhận tin 3 đứa con của mình đã quyên thân nơi chiến trường bom đạn. Bà Lê Thị Trị - người con gái đầu của Mẹ bộc bạch: " Lúc mẹ còn sống, mỗi khi tới kỳ giỗ chạp của các con hay ngày Tết Nguyên đán, ngày Thương binh liệt sỹ, Mẹ thường lọ dọ chống gậy tìm đến bàn thờ thắp 9 ngọn nến, 9 nén hương và xếp 9 cái bát, 9 đôi đũa bên mâm cơm để gọi các con về với Mẹ…Lại có những đêm thiếp đi trong cơn mê, Mẹ như thấy các con về, Mẹ choàng tỉnh dậy, nước mắt lưng tròng đến trước bàn thờ gọi tên từng người con yêu quý và thắp 9 nén hương để tưởng nhớ các con…".
Khi viên đạn xuyên qua tim người lính, nó cũng xuyên qua tim của người mẹ. Bom đạn không chỉ lấy đi sinh mạng của người lính mà còn lấy đi bình yên của người mẹ. “Ngày ấy chiến tranh ác liệt, để con đi thì tôi dễ mất con nhưng giữ còn lại thì mất nước”. Có những người mẹ họ không chỉ chết một lần - Mẹ Thứ đã quặn lòng mất đi chín người con trai, một người con rể và hai cháu ngoại. Ruột Mẹ đứt từng khúc, từng đoạn, mấy ai hiểu được nỗi đau ấy của bà. Trải qua nỗi mất mát to lớn ấy, Mẹ vẫn tiếp tục vững bước và sống thay các con, Mẹ Thứ như sống thay phần những người con anh hùng, để Mẹ sống trọn với hòa hình đã được đánh đổi bằng máu xương:
“Kháng chiến đã giành đất nước về cho đời
Bóng đất nước hình như bóng dáng con tôi
Ôm con ra mái hiên nhìn đàn chim rộn rang hót
Giữa mùa xuân mừng con sẽ góp phần
Tương lai con đẹp lắm
Mẹ ngắm con cười
À á ru hời ơ hời ru...”
( Bài hát “Mẹ yêu ơi” – Nguyễn Văn Tý)
Những người cha có cách yêu thương của họ và những người mẹ đặc biệt là những người mẹ trong kháng chiến cũng có những cách yêu thương riêng. Giữa bom đạn, chúng ta không thể nào quên của một hình bóng lặng thầm mà vững chãi như một ngọn núi đó chính là hình ảnh của người mẹ ở quê nhà, ở chốn hậu phương. Mẹ không mặc áo giáp, không cầm súng ra chiến hào nhưng chính trái tim mẹ đã trở thành điểm tựa bình yên nhất để những đứa con vững vàng nơi tuyến lửa. Mỗi lần một người lính ngã xuống là một lần có một trái tim người mẹ ở quê hương đã vụn vỡ theo.
Mẹ đã đoàn tụ với chồng và các con liệt sĩ vào ngày 10/12/2010. Mẹ không còn nữa nhưng tên tuổi của Mẹ vẫn mãi mãi sáng ngời trong lịch sử dân tộc Việt. Những gì Mẹ cống hiến cho Tổ quốc mãi là một tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo.
Mẹ Thứ đã được trao tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng vào năm 1994. Trân trọng với những gì các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã cống hiến cho tổ quốc, cho Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước đã thống nhất xây dựng tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, lấy nguyên mẫu Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Công trình đã được khởi công vào ngày 27/7/2009, tại Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, Tam Kỳ, Quảng Nam), nay là địa chỉ đỏ, được nhân dân khắp mọi miền tổ quốc đến viếng.
Cuộc đời Mẹ Nguyễn Thị Thứ là thiên anh hùng ca khắc bằng máu và nước mắt, soi rọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ngọn lửa trong tim Mẹ đã đốt cháy mọi sợ hãi, để lại nguồn sáng cửu cho nhân dân. Tri ân Mẹ không thể dừng ở cảm xúc nhất thời, mà phải biến thành hành động cụ thể: học tập suốt đời, lao động hăng say, dấn thân khi Tổ quốc gọi tên. Cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Lục quân hôm nay hiểu rằng tiếp bước mẹ là nhiệm vụ thiêng liêng: ngày ngày rèn luyện bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, phát huy nghiên cứu khoa học quân sự, làm chủ công nghệ mới, kiên quyết giữ vững chủ quyền lãnh thổ. Mỗi dòng mã lập trình hệ thống tác chiến mô phỏng, mỗi đường bút trên bản đồ hành quân, mỗi giọt mồ hôi trên sân bắn đều là hạt giống hòa bình.
Chiều xuống, đứng trước tượng đài Mẹ trên núi Cấm, ta nghe gió biển Trường Sa thổi qua vầng đá hoa cương, như lời Mẹ nhắn: “Các con ơi, non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa”. Đó là lời thề bất diệt, là mệnh lệnh mềm mại nhưng hùng hồn, dẫn dắt lớp trẻ dựng xây nước Việt hùng cường, để bầu trời độc lập nở mãi những đoá hoa do Mẹ tưới bằng máu và tình yêu vô hạn.
Cuộc đời của Nguyễn Thị Thứ là bản hùng ca thầm lặng của tình mẫu tử và lòng yêu nước. Mẹ đã tiễn những người con của mình ra chiến trường, để rồi nỗi đau ở lại trong trái tim mẹ nhưng Tổ quốc được hồi sinh trong hòa bình. Những giọt nước mắt của mẹ đã hòa vào đất mẹ, trở thành một phần của lịch sử dân tộc. Vì thế, mỗi khi nhắc đến mẹ Nguyễn Thị Thứ, chúng ta không chỉ nhắc đến một người mẹ, mà nhắc đến biểu tượng bất diệt của sự hy sinh, của tình yêu nước và của trái tim người mẹ Việt Nam vĩ đại.


