Người phụ nữ thế chấp tính mạng 3 đời thân tộc cứu dân
Người ta kể rằng, lúc còn sinh thời, bà Huỳnh Thị Phú là 1 người hết mực thương yêu dân nghèo trong vùng.
Hồi đó vùng Châu Đốc chỉ toàn là rừng rậm, đầm lầy lau sậy, bưng trấp hoang vu và rất nhiều thú dữ, không làng, không xóm, chỉ có một cái đồn cheo leo của triều đình lập ra tại trấn này để canh giữ vùng biên cương.
Lúc bấy giờ, thành Châu Phú do các quan võ của triều đình và vài trăm quân lính trông coi. Hồi đó trong những lần đi thăm điền đất, bà Huỳnh Thị Phú đã chứng kiến cảnh nhiều người dân nghèo bị bệnh nhưng không có thầy thuốc chạy chữa nên phải chết oan ức.
Sau nhiều ngày đêm suy tính, cuối cùng bà Huỳnh Thị Phú quyết định bỏ tiền xây một nhà trị bệnh, rước danh y từ các nơi về trả lương bổng hậu hĩnh để họ an tâm lo việc chẩn trị, bốc thuốc miễn phí, trị bệnh cho dân nghèo quanh vùng Châu Phú - Châu Đốc, từ đó cứu mạng được rất nhiều người.
Sau khi lo xong việc trị bệnh cho dân, bà Huỳnh Thị Phú nhận thấy trẻ em trong vùng Châu Đốc đều thất học do không có trường lớp, từ đó không biết lễ nghĩa, nên bà quyết định bỏ tiền, hiến đất mở lớp học, xây trường, rước thầy giáo từ nơi khác về để dạy chữ Nho cho con em dân nghèo trong vùng, khiến nhiều người rất cảm kích.
Thời xưa vùng biên viễn Châu Đốc thường xảy ra động binh do giặc từ bên kia biên giới kéo sang cướp phá, nhiều khi giặc cướp từ các nơi tụ về hoành hành khiến quan quân đồn trú phải vất vả đánh dẹp.
Những lúc biên giới xảy ra chiến tranh ly loạn thì dân tình lao đao khốn khổ, đời sống khó khăn túng thiếu vì không ai dám ra đồng làm ruộng, nhiều gia đình phải lâm cảnh ly tán.
Có rất nhiều trường hợp những gia đình nông dân nghèo khó trong vùng chiến tranh loạn lạc không đủ gạo nuôi con, đành nhắm mắt gạt lệ đem con thả vào rừng cho thú dữ ăn thịt.
Gia đình nào không đành lòng bỏ con vào rừng thì đóng bè bằng cây chuối rồi buộc con cái vào bè, sau đó thả trôi theo dòng nước sông Hậu để mong có người cứu giúp con cái họ thoát cảnh chết đói hoặc chết chìm dưới lòng sông lạnh.
Những trường hợp như vậy, khi được gia nhân hoặc người dân trong vùng báo tin, bà Huỳnh Thị Phú đều tức tốc cho người vào rừng tìm những đứa trẻ vô phúc hoặc bơi thuyền ra sông Hậu tìm vớt những đứa trẻ bị thả trôi sông đem vào một ngôi nhà chung nuôi ăn học tử tế.
Từ việc làm nhân nghĩa của bà Huỳnh Thị Phú, sau này những gia đình nghèo khó không khả năng nuôi con không còn đem con cái bỏ vào rừng hoặc đóng bè thả trôi sông mà đem con đến nương nhờ người phụ nữ tốt bụng.
Nhưng câu chuyện được người ta nhớ nhiều nhất là việc bà Huỳnh Thị Phú dám mang sinh mạng của hàng trăm người trong 3 đời dòng tộc ra làm “tài sản thế chấp” với triều đình Huế để vay lúa cứu giúp dân nghèo khỏi lâm cảnh chết đói trong cơn lụt lội.
Người ta kể rằng vùng Châu Đốc xưa năm nào cũng bị lũ lụt tràn ngập từ tháng 7 đến tháng 11 Âm lịch, do dòng nước từ thượng nguồn phía Campuchia tuôn theo sông Hậu, kênh Vĩnh Tế vào vùng Châu Đốc gây ngập lụt ruộng đồng, nhà cửa.
Vào mùa lụt lội kéo dài mấy tháng trời, trên đồng nước ngập sâu 4 - 5 mét khiến người dân phải bỏ nhà cửa, đùm túm nhau đến những nơi khô ráo như Núi Sam và các ngọn núi lân cận để chạy lụt.
Nước ngập quá sâu nên không thể làm ruộng được, mùa nước lụt kéo dài 5 - 6 tháng, những người dân nghèo chạy lụt đều lâm cảnh đói kém, không có lúa gạo để cầm cự qua ngày.
Năm nào lũ lụt hoành hành khiến nhiều người dân lâm cảnh thất mùa, đói khát, khi nghe gia nhân báo tin, bà Huỳnh Thị Phú tức tốc sai người mở kho lúa của gia đình để cứu tế cho dân nghèo.
Nhưng kho lúa của gia đình có hạn, trong khi số người nghèo đói mỗi ngày một tăng do nước ngập tràn đồng lâu ngày, nên sau nhiều ngày suy đi tính lại, bà Huỳnh Thị Phú đã quyết định làm đơn xin vay lúa của triều đình nhà Nguyễn để cứu tế dân nghèo.
Thời đó ở thành Châu Đốc có một kho dự trữ lương thực của triều đình nhà Nguyễn để phòng khi có giặc ngoại xâm, việc sản xuất bị trở ngại thì quân binh có lương thực để đủ sức đối phó với quân giặc, bảo vệ biên cương.
Nếu vùng biên cương yên ổn, quan binh trong thành tuyệt đối không được mở kho lương nếu không có lệnh của triều đình nhà Nguyễn, ai vi phạm sẽ mang tội chết.
Nhưng trước tình cảnh dân chúng trong vùng và nhân công khẩn hoang lập ấp đói ăn do lụt lội, bà Huỳnh Thị Phú đã nhiều lần dâng sớ tâu rõ sự tình thương tâm và đứng ra chịu trách nhiệm, xin vay lúa của triều đình nhà Nguyễn trong kho Châu Đốc để cứu tế cho dân nghèo qua cơn nguy khốn.
Khi nhận “sớ vay lúa” của bà Huỳnh Thị Phú, quan binh trong thành Châu Đốc rất cảm kích trước tấm lòng thương dân như con của người phụ nữ thuộc dòng tộc Lê Công, nhưng họ tuyệt đối không dám làm trái lệnh triều đình mở kho xuất lúa cứu dân.
Các quan trấn giữ thành Châu Đốc chỉ có thể xác nhận việc dân nghèo trong vùng đói kém do lụt lội là có thật và việc bà Huỳnh Thị Phú vay lúa cứu dân là chuyện cấp thiết, sau đó chuyển “sớ vay lúa” của bà về cấp trên giải quyết.
Thời đó giao thông liên lạc khó khăn, công văn thư từ (và cả “sớ vay lúa” của bà Huỳnh Thị Phú) từ thành Châu Đốc phải dùng ngựa trạm, ngày đi đêm nghỉ chuyển về thành Gia Định, từ đây công văn giấy tờ lại tiếp tục được chuyển về triều đình Huế cũng bằng ngựa trạm, cả hai lượt đi về mất thời gian mấy tháng trời.
Trước tình cảnh đó, bà Huỳnh Thị Phú phải thực hiện kế sách: khi nước lụt bắt đầu tràn xuống thì bà viết “sớ vay lúa” gửi triều đình Huế.
Trong thời gian tờ sớ được chuyển đi từ Châu Đốc ra đến Huế và chờ phê duyệt rồi đưa trở về Châu Đốc thì bà Phú cho mở kho lúa của gia đình cứu tế dân nghèo.
Đến khi “sớ vay lúa” được triều đình phê duyệt chuyển về đến thành Châu Đốc thì lúa trong kho gia đình vừa hết, lúa đó tiếp tục lấy lúa trong kho của thành Châu Đốc cứu dân.
Từ lâu đã nghe uy tín, công đức của bà Phú và gia tộc Lê Công đối với dân nghèo nên khi nhận được “sớ vay lúa” của bà Phú thì triều đình nhà Nguyễn chấp thuận mở kho lúa thành Châu Đốc cho bà Phú vay để cứu dân nghèo trong cơn lụt lội.
Tuy nhiên triều đình Huế ra một điều kiện ngặt nghèo: bà Huỳnh Thị Phú phải làm cam kết trả lúa đúng hạn vào mùa lúa năm sau. Nếu không trả đủ lúa theo cam kết thì bà Phú và gia tộc Lê Công sẽ mắc tội với triều đình và phải chịu án “tru di tam tộc”.
Trước điều kiện ngặt nghèo của triều đình nhà Nguyễn, nhiều người trong gia tộc Lê Công đã hết sức hoang mang, lo lắng vì sợ năm sau mùa màng thất bát, không đủ lúa trả cho vua thì cả dòng họ sẽ bị xử chết.
Nhưng bà Huỳnh Thị Phú vẫn bình tĩnh khuyên mọi người trong gia tộc đừng hốt hoảng và bà mạnh dạn cam kết chịu trách nhiệm trả đủ lúa cho triều đình.
Người dân Châu Đốc kể rằng, sau khi nước lũ rút đi, người dân nghèo vì cảm kích trước tấm lòng thương dân của bà Huỳnh Thị Phú nên ra sức cày cấy trên đồng ruộng, cộng thêm lớp phù sa màu mỡ do nước lụt để lại nên năm nào cũng trúng mùa, giúp bà Phú có đủ lúa trả cho triều đình không thiếu một cân.
Những năm sau đó vào khoảng tháng 6, tháng 7 nếu nhìn thấy những hiện tượng thời tiết bất thường cho thấy khả năng sẽ có lụt lớn xảy ra, dân tình đói khổ là bà Huỳnh Thị Phú sai gia nhân đi một vòng trong vùng Châu Phú - Châu Đốc thống kê sơ bộ số dân nghèo cần cứu tế, sau đó viết “sớ vay lúa” gửi ra triều đình Huế.
Do bà Phú giữ uy tín, năm nào cũng trả đủ lúa vay nên triều đình nhà Nguyễn sẵn sàng mở kho cho bà vay lúa cứu dân nghèo. Tuy nhiên chưa bao giờ triều đình bỏ “điều kiện thế chấp” là án tru di tam tộc khi phê duyệt cho bà Huỳnh Thị Phú vay lúa cứu dân.
Người ta còn kể rằng, ngoài việc cứu giúp dân nghèo, bà Huỳnh Thị Phú còn là người sáng suốt minh mẫn, có đức độ và am hiểu nhiều việc thế sự.
Chính vì vậy mà trong cuộc sống hàng ngày bà Phú đã đóng góp nhiều sáng kiến hay để giải quyết tốt đẹp mọi việc rắc rối, tranh tụng của dân vùng Châu Phú - Châu Đốc thời đó.
Những việc làm nhân đức cũng như công lao khai hoang lập ấp, mở rộng đất đai canh tác, nỗ lực cải thiện cuộc sống cho cộng đồng của các vị tổ tiên tộc họ Lê Công và bà Huỳnh Thị Phú tại vùng Châu Phú - Châu Đốc đã được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận và ban thưởng xứng đáng.
Ngoài việc phong hai ông Lê Công Thoàn, Lê Công Bích làm “Tiền hiền, Hậu hiền” của làng Châu Phú, triều đình nhà Nguyễn còn dành cho tộc họ Lê Công ở Châu Đốc một vinh dự khác là ban chiếu chỉ triệu họ về Huế tiếp nhận sắc phong của Thượng đẳng Đại Thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh về Lê Công phủ thờ tự, cúng giỗ.
Trong chiếu chỉ vua ban ghi rõ: “Vì tưởng nhớ công cao dày đức trọng của ông Nguyễn Hữu Cảnh ba lần đem quân dẹp giặc Cao Miên xâm lấn biên giới và lập công cuộc bảo hộ đất Miên, sắc này đã lập và phong chức Đại Thần từ đời vua Minh Mạng nhưng lựa không được người xứng đáng để thờ vị Thượng đẳng Đại thần nầy. Sau còn phong chức Lễ Thành Hầu tất cả là hai chức.
Xét vì ông Lê Công Thoàn có công lao khó nhọc khai hoang lập ấp và lập làng Châu Phú.
Ông Lê Công Bích nối tiếp cha khai cơ lập nghiệp cho dân, làm quan Tổng Binh công bằng chính trực, biết thương dân. Nay hai ông xứng đáng được thờ vị linh thần này.
Còn nghi thức tế lễ được đúng quy cách thì họ Lê Công phải đảm nhiệm và sau này phải phái người đến triều đình (bộ Lễ) đặng học nghi cách theo cuộc tế lễ Nam Giao”.
Vì vậy mà ngày nay trên bàn thờ chính giữa Lê Công phủ vẫn còn thờ Thượng đẳng Đại thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.



