Bài viết

NGUYỄN AN NINH – KHI NGÒI BÚT TRỞ THÀNH VŨ KHÍ

Thái Nguyên11/04/2026Ban Biên tập tổng hợp8 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến tranh đã không còn nữa, nhưng những câu chuyện của một thời hoa lửa vẫn còn nguyên sức lay động với từng con người Việt Nam ngày nay. Là một sinh viên, được sống và học tập trong thời bình, việc được nghe những câu chuyện lịch sử không chỉ qua những trang sách mà đó còn là sự đối thoại với quá khứ một thời. Cuộc thi “câu chuyện thời hoa lửa” chính là cơ hội quý giá để em một lần nữa nhìn lại những người anh hùng dũng cảm và kiên cường đã làm nên lịch sử bằng sự hy sinh thầm lặng.

Bài viết này xoay quanh hình tượng cây bút cách mạng Nguyễn An Ninh – một nhà báo, nhà tri thức yêu nước trong những buổi đầu chống thực dân Pháp xâm lược. Qua câu chuyện của ông, em không chỉ kể lại hay tường thuật lại một sự kiện lịch sử, thay vào đó mong muốn được vẽ lại, được khắc họa từng từng khoảnh khắc một cách sinh động của nhà báo tài ba này càng thêm cháy bỏng.

Viết về Nguyễn An Ninh đối với em chẳng khác gì đang ngồi chiêm ngưỡng lại từng dòng cội nguồn của lịch sử. Đó không chỉ là một sự trải nghiệm, một sự học hỏi, mà còn là một lời nhắc nhở luôn ngự trị trong tâm trí mỗi người con Việt Nam rằng: độc lập, tự do, hạnh phúc đáng quý biết bao, để có được ngày hôm nay, có không biết bao những chiến sĩ, những anh hùng đã xả thân, hy sinh thanh xuân, xương máu để đối lấy bầu trời xanh, màu cờ đỏ thắm của Tổ quốc.

I. Sự ham học hỏi của những ngày tháng trẻ tuổi.

Sinh ra tại vùng đất Long An trong một gia đình nho giáo, Nguyễn Văn Ninh sớm được thừa hưởng năng lực học hỏi trời phú từ cha của ông – ông Nguyễn An Khương là một thầy thuốc, giỏi chữ Hán ngữ và Quốc ngữ, chuyên đi dạy học và dịch sách.

Sớm được tiếp xúc và ảnh hưởng không ít từ cha mình, trong lòng ông vốn đã hình thành nên tấm lòng yêu nước tha thiết. Lúc bấy giờ, tuy được tuyển thẳng ra Hà Nội học trường cao đẳng Y dược, nhưng chính ông lại từ bỏ và lựa chọn sang ngành Luật và Cai trị, cốt để phần nào thấu hiểu bản chất của chính quyền thực dân để sau này đứng dậy đấu tranh công khai bằng pháp luật. Sau hai năm theo học tại Pháp, ông đã hoàn thành chương trình học tại Pháp và được cấp bằng cử nhân Luật xuất sắc.

II. Từ tri thức tiến tới con đường đấu tranh cách mạng.

Bằng năng lực học hỏi trời phú của mình, ông Nguyễn An Ninh đã đem lại cho bản thân rất nhiều kiến thức liên quan tới Hán Học, Tây học, Luật học, Triết học, Văn hóa và Khoa học.

Vì con đường học còn dài, ông không chỉ định dừng chân ở bậc Cử nhân mà còn muốn tiến xa hơn nữa tới học vị Tiến sĩ. Nhưng những ý nghĩ ấy chợt dừng lại để nhường bước lại cho một lý tưởng cao đẹp hơn cả, một lý tưởng mà ông đã sớm ôm ấp theo truyền thống gia đình từ những ngày thơ bé còn ở Chiêu Nam Lầu chính là đấu tranh cho Việt Nam.

III. Tiếng nói yêu nước giữa lòng nước Pháp.

Năm 1920, giữa dòng người phồn hoa tại thủ đô Paris, người thanh niên chỉ mới 20 tuổi xuân xanh đã dấn thân mình tham gia vào hoạt động chính trị. Khi phong trào yêu nước của Phan Châu Trinh nổi dậy, chính ông là người đã đi theo và phiên dịch cho những cuộc đàm phán giữa Bộ trưởng Albert Sarraut đòi ân xá chính trị phạm Việt Nam, mở thêm trường học, cho thương gia Việt Nam liên hệ thẳng với nước ngoài.

Năm 1921, Năm 1921, ông gia nhập Hội Liên hiệp Thuộc địa, tham gia tích cực cơ quan ngôn luận của Hội là báo Le Paria cùng với Nguyễn Ái Quốc, tham dự và phát biểu tại những cuộc diễn thuyết do Hội tổ chức và được quần chúng bắt đầu chú ý.

Nhóm Ngũ Long gồm Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh được Việt kiều ở Pháp mến mộ, khâm phục, khiến Bộ Thuộc địa Pháp phải yêu cầu Bộ Nội vụ cùng phối hợp hành động để đối phó những nhà cách mạng này.

IV. Những buổi diễn thuyết mang âm hưởng dân tộc.

Khi về nước, Nguyễn An Ninh đã đích thân chủ trì hai buổi diễn thuyết để thăm dò phong trào quần chúng. Đêm ngày 25/01/1923 với buổi diễn thuyết thứ nhất với đề tài “Nền văn hóa Việt Nam” đã được quần chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Buổi diễn thuyết thứ hai diễn ra vào đêm ngày 15/10/1923 với đề tài “Lý tưởng thanh niên An Nam”.

Trong hai cuộc thuyết trình này, lời lẽ của ông được cho là tiếng chuông khơi động sự "thức tỉnh đồng bào" về sự cần thiết nâng cao dân trí, xây dựng một nền văn hóa dân tộc. Ông cho rằng: "Dân tộc nào để cho một nền văn hóa ngoại bang ngự trị thì không thể có độc lập thực sự. Văn hóa là tâm hồn của dân tộc" do đó "một dân tộc muốn sống, muốn độc lập, muốn rạng danh trong nhân loại, cần phải có một nền văn hoá riêng của mình". Ông khẳng định Việt Nam cần có một tầng lớp tinh hoa nắm vững tri thức để có thể dẫn dắt dân tộc nhằm mưu cầu một nền độc lập chân chính về mặt văn hóa, tư tưởng cũng như kinh tế, chính trị. Tầng lớp tinh hoa đó có thể sáng tạo ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, có thể đưa ra những chính sách phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, có thể hiện đại hóa Việt Nam và đưa Việt Nam hội nhập vào thế giới văn minh. Nếu không có một tầng lớp tinh hoa như vậy thì những hoạt động chính trị chỉ làm phung phí sức lực của dân tộc mà không đem lại một nền độc lập chân chính, không thể phát triển Việt Nam.

Ông đả kích thứ mà ông gọi là "vai trò khai hóa" của người Pháp tại Việt Nam, cho đó là một trò bịp bợm, một chiêu bài nhằm che giấu "chính sách bóc lột" thực dân, kêu gọi thanh niên đừng ỷ lại vào đó và "phải dấn thân vào cuộc sống đấu tranh…". Và ông đã kết luận "Hãy tôn sùng những ai đã dùng tài năng hay thiên phú của mình mà tự nâng vị trí của dân tộc ta (chỉ người Việt) trên thế giới và những ai đã đóng góp vào việc cải thiện điều kiện sống cho dân tộc chúng ta".

Tiếng vang qua hai bài diễn thuyết của Nguyễn An Ninh đã tác động mạnh trong dư luận thanh niên và trí thức Sài Gòn, đã làm đau đầu chính quyền thống trị. Thống đốc Nam Kỳ lúc đó là Cognacq phải gọi ông lên dinh để mong bịt miệng. Trước tiên, Cognacq hứa hẹn sẽ bổ nhiệm Nguyễn An Ninh vào một chức vụ cao, nhưng sau đó thấy không thể thay đổi ý nghĩ của Nguyễn An Ninh, ông ra lệnh cấm Nguyễn An Ninh diễn thuyết hay tụ họp bất cứ nơi đâu.

V. Báo La Cloche Fêlée và sứ mệnh lịch sử.

Không thể tiếp tục đấu tranh bằng lời nói, ông chuyển sang đấu tranh bằng ngòi bút. Ông đã lợi dụng Đạo luật ngày 19 tháng 7 năm 1881 cho phép báo chí viết bằng tiếng Pháp khỏi phải xin phép trước khi báo phát hành. Đạo luật này cho phép dùng "gậy ông đập lưng ông" nên ông cho ra đời báo La Cloche Fêlée (Chuông rè) bằng Pháp văn với người quản lý Pháp lai tên Eugène Dejean de la Bâtie. Ông phải lo chạy tiền ra báo, Nguyễn An Khương bán ruộng cho con có tiền và ngày 10 tháng 12 năm 1923, La Cloche Fêlée ra mắt số đầu tiên.

Báo tự xưng là cơ quan ngôn luận, tuyên truyền chuẩn bị cho tương lai với tinh thần: Tự do, Bình đẳng, Bác ái nhằm xây dựng Việt Nam thành một nước Pháp thứ hai tại Châu Á. Nhưng lập trường, quan điểm ấy dù bề ngoài ôn hòa và thiện chí, thực chất là để "chọc" vào điểm yếu của chế độ thực dân, được Nguyễn An Ninh cho là một chế độ hoàn toàn đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản của cuộc cách mạng Pháp 1789. Do đó vì không cấm đoán được, Cognacq và nhà cầm quyền Pháp chủ trương đánh phá La Cloche Fêlée. Bất cứ ai cầm tờ báo trên tay cũng bị mật thám theo dõi, bị đuổi học, đuổi việc.

Con đường làm báo vốn chông gai và khó khăn như thế, nhưng ông Nguyễn An Ninh vẫn làm, vẫn công kích chế độ thuộc địa và ông đã xác định trên báo: "Lưỡi gươm đe dọa vẫn làm chúng tôi dửng dưng. Chúng tôi đã hy sinh tất cả trong quá khứ, chúng tôi sẵn sàng hy sinh tất cả trong tương lai…"

VI. Sự hy sinh thầm lặng.

Với lòng yêu nước sâu sắc, lòng quyết tâm hết mình vì cách mạng để cho một đất nước trở nên tươi đẹp hơn. Nguyễn An Ninh đã nhiều lần bị bắt và ngồi tù, cụ thể là năm lần, nhưng vẫn không mai một được lòng quyết tâm cứng như sắt đá ấy.

Do hoạt động cách mạng quá tích cực, ông đã bị coi như cái đinh trong mắt của thực dân Pháp thời bấy giờ, hết lần này lần khác nhốt ông vào tù. Ngày 5 tháng 10 năm 1939, ông lại bị bắt lần thứ năm và cũng là lần cuối cùng. Sau đó, ông nhận án 5 năm tù lưu đày Côn Đảo. Trên đảo, ông bị hành hạ, bị đói khát triền miên khiến ông kiệt sức dần.

Tấm gương và người anh hùng vĩ đại 43 năm hết mình đấu tranh vì tương lai của đất nước đã mất vào ngày 14 tháng 8 năm 1943, hai năm trước khi Việt Nam dành được độc lập.

Trên chiếc xe bò chở ông đến bãi khu mộ Hàng Keo, vì thấy quần áo ông Ninh quá cũ nát, một người tù đã lấy chiếc áo còn khá lành lặn của mình để thay, và người ta đã tìm thấy bài thơ này, một bài thơ với những con chữ nghệch ngoạc rơi ra từ túi áo của ông:

Sống và chết

Sống mà vô dụng, sống làm chi

Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?

Sống trái đạo người, người thêm tủi

Sống quên ơn nước, nước càng khi.

Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn

Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ

Sống sao nên phải, cho nên sống

Sống để muôn đời, sử tạc ghi.

Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài

Chết đáng là người đủ mắt tai

Chết được dựng hình tên chẳng mục

Chết đưa vào sử chứ không phai

Chết đó, rõ ràng danh sống mãi

Chết đây, chỉ chết cái hình hài

Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi

Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.

VII. Dấu ấn lịch sử.

Với tư cách là người học lịch sử của ngày hôm nay, khi đặt bút viết về ông Nguyễn An Ninh, em đã nhiều lần tự hỏi rằng: mỗi người trong chúng ta cần phải sống như thế nào, học tập như thế nào để cho xứng đáng với thế hệ những người đi trước, những người mà đã lấy tuổi trẻ, tấm thân mình để hy sinh vì đất nước?

Hình ảnh của ông, một người sống hết mình vì cách mạng, vì lý tưởng đất nước có lẽ không bao giờ phai mờ và mai một trong tâm trí mỗi người.

Giáo sư Trần Văn Giàu đã nói:

Người anh Ninh, tóc chấm vai, mắt sáng như sao, tiếng trong như chuông. Ở đất Sài Gòn mà mặc bà ba, đi guốc, bán báo Chuông rè của mình viết. Hình ảnh đó tự nó đủ gây cảm tình sâu sắc với đồng bào... Một thuở, Nguyễn An Ninh là thần tượng của đồng bào lục tỉnh, của học sinh chúng tôi... Con người sôi nổi, đại chúng đó, hùng hồn ở diễn đàn, bén nhọn trên cột báo, không chút sợ Tây, tà, vào tù như về quê, con người ấy đồng thời là một người trầm tư, mặc tưởng...

Nguyễn An Ninh là một chính khách, học giả, một nhà chính trị hoạt động. Trước hết, anh là một con người của quần chúng, là con người của nhân dân... Trong mắt, trong lòng người Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, chí sĩ Nguyễn An Ninh là một người cách mạng, xứng đáng được lưu danh bằng bia đá, tượng đồng". Từ một sinh viên của Đại học Đông Dương, Nguyễn An Ninh trở thành một chiến sĩ, một lãnh tụ có uy tín lớn và có ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào yêu nước Việt Nam trong suốt gần 2 thập kỷ (từ 1923 đến 1943). Ông còn là nhà tư tưởng, nhà văn hoá và nhà báo lớn. Những tác phẩm của ông về tư tưởng chính trị, về tôn giáo và về văn hoá có ảnh hưởng sâu rộng đối với diễn trình lịch sử văn hoá - tư tưởng Việt Nam cận đại. Ông là một trong những người tiêu biểu nhất của lớp trí thức "Tây học" đầu tiên, dũng cảm dấn thân, xả thân, đem hết tài năng, dũng khí và tính mạng cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân.

Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh

*NGUỒN TÀI LIỆU:

Nhân vật Nguyễn An Ninh – người kể sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn