NGUYỄN CÔNG HOAN – TIẾNG CƯỜI BẬT LÊN TỪ NHỮNG PHẬN NGƯỜI
Nguyễn Hà Thu
Ngày 6 tháng 3 năm 1903, tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Công Hoan ra đời trong một gia đình có truyền thống khoa bảng nhưng đã bước vào thời kỳ sa sút. Tuổi thơ của ông gắn với Hà Nội, với những năm tháng học tập, đọc sách và sớm quan sát cuộc sống xung quanh. Chính những trải nghiệm ấy đã góp phần hình thành nên một nhà văn có cái nhìn đặc biệt sắc sảo về con người và xã hội.
Nguyễn Công Hoan viết văn từ rất sớm. Năm 1923, khi mới hai mươi tuổi, tập truyện Kiếp hồng nhan được xuất bản. Từ những trang viết đầu tiên, ông đã dần tìm thấy con đường riêng của mình: dùng văn chương để quan sát đời sống, dùng tiếng cười để phơi bày những nghịch lý và bất công đang tồn tại trong xã hội.
Nhưng tiếng cười trong văn Nguyễn Công Hoan chưa bao giờ chỉ để mua vui.
Đó thường là một tiếng cười khiến người đọc cười xong rồi phải lặng đi.
Ông đặc biệt thành công với truyện ngắn trào phúng. Trong những trang văn ấy, quan lại tham lam, cường hào, kẻ giàu có vô lương tâm và những con người chạy theo đồng tiền hiện lên với những bộ mặt vừa đáng cười vừa đáng phê phán. Đằng sau những tình huống tưởng như hài hước lại là những phận người nghèo khổ, bị chèn ép và không có quyền tự quyết định cuộc đời mình.
Nguyễn Công Hoan không né tránh những điều xấu xa của xã hội. Ông nhìn thẳng vào chúng và đưa chúng lên trang giấy.
Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Kép Tư Bền , xuất bản năm 1935. Câu chuyện về người nghệ sĩ phải làm cho khán giả cười trong khi bản thân đang mang một nỗi đau riêng đã trở thành một hình ảnh đầy ám ảnh. Tiếng cười trên sân khấu và nỗi buồn phía sau sân khấu tạo nên một nghịch cảnh cay đắng: có những lúc con người phải che giấu nỗi đau của mình để hoàn thành vai diễn trước mắt người khác.
Và đó cũng là một đặc điểm trong nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan: ông thường để tiếng cười dẫn người đọc đến với nước mắt.
Nếu Kép Tư Bền cho thấy tài năng trào phúng đặc sắc thì Bước đường cùng lại cho thấy một Nguyễn Công Hoan mạnh mẽ hơn trong việc phản ánh cuộc sống của người nông dân. Tiểu thuyết được xuất bản năm 1938, tập trung khắc họa những áp bức, bất công mà người nông dân phải chịu đựng trong xã hội cũ. Tác phẩm đã gây tiếng vang lớn và từng bị chính quyền thực dân và Nam triều cấm tàng trữ, lưu hành.
Qua những trang viết ấy, người đọc nhận ra một điều: Nguyễn Công Hoan không đứng ngoài cuộc sống để quan sát con người. Ông đứng về phía những người bé nhỏ, những người bị áp bức. Ông dùng ngòi bút để nói thay những nỗi đau mà nhiều người không có cơ hội cất tiếng.
Có lẽ vì vậy mà văn chương của ông vừa sắc bén, vừa cay đắng, nhưng sâu bên trong vẫn là một tấm lòng thương người.
Nguyễn Công Hoan không chỉ viết văn. Ông còn là một nhà giáo, nhà báo và hoạt động trong nhiều lĩnh vực văn hóa. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tích cực tham gia hoạt động báo chí, văn nghệ phục vụ cách mạng và kháng chiến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia Vệ quốc quân, làm biên tập viên báo Vệ Quốc quân và giữ một số nhiệm vụ trong lĩnh vực báo chí, giáo dục.
Năm 1957, Hội Nhà văn Việt Nam được thành lập. Nguyễn Công Hoan là một trong những hội viên sáng lập và được bầu làm Chủ tịch Hội khóa đầu tiên, đồng thời làm Chủ nhiệm tuần báo Văn, tiền thân của báo Văn nghệ.
Những năm cuối đời, ông vẫn gắn bó với văn chương. Năm 1971, hồi ký Đời viết văn của tôi ra đời, ghi lại hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút của ông. Đó không chỉ là câu chuyện về một nhà văn mà còn là những hồi ức về một giai đoạn đặc biệt của văn học Việt Nam.
Ngày 6 tháng 6 năm 1977, Nguyễn Công Hoan qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 74 tuổi. Nhưng hơn nửa thế kỷ cầm bút của ông đã để lại một di sản đồ sộ với hàng trăm truyện ngắn, nhiều truyện dài, tiểu thuyết và các công trình, hồi ký văn học.
Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, nghệ thuật cho những đóng góp nổi bật của mình đối với nền văn học dân tộc.
Nhìn lại cuộc đời Nguyễn Công Hoan, điều đáng quý nhất có lẽ không chỉ nằm ở số lượng tác phẩm ông để lại, mà ở cách ông nhìn cuộc đời.
Ông nhìn thấy phía sau một tiếng cười là một nỗi đau. Phía sau vẻ ngoài sang trọng có thể là sự giả dối. Phía sau những lời nói về đạo đức có thể là lòng tham. Và phía sau những con người nghèo khổ, bị coi thường lại là những số phận rất đáng được trân trọng.
Nguyễn Công Hoan đã biến những điều tưởng như nhỏ bé của đời sống thành những câu hỏi lớn về con người.
Ông khiến người đọc bật cười, nhưng rồi chính tiếng cười ấy buộc người ta phải suy nghĩ: Vì sao một xã hội lại có thể khiến con người đau khổ đến vậy? Vì sao cái giả dối có lúc lại được khoác lên vẻ ngoài đáng kính? Và vì sao những người lương thiện đôi khi lại phải chịu nhiều thiệt thòi?
Đó chính là sức mạnh của văn chương Nguyễn Công Hoan.
Ông không tô hồng cuộc sống. Ông cũng không ngại làm người đọc khó chịu. Ông chọn cách cầm bút để nói ra những điều cần được nói, để bảo vệ những con người cần được bảo vệ và để tiếng cười trở thành một cách đấu tranh với cái xấu, cái giả dối và bất công.
Nguyễn Công Hoan đã khép lại cuộc đời mình từ năm 1977, nhưng tiếng cười trong văn chương của ông vẫn còn đó.
Một tiếng cười tưởng nhẹ nhàng mà sắc như lưỡi dao.
Một tiếng cười tưởng vui mà phía sau là nước mắt.
Và trên hết, đó là tiếng cười của một nhà văn nhìn thấu những nghịch lý của cuộc đời nhưng vẫn giữ trong mình niềm tin vào giá trị của con người.
Bởi vậy, nhắc đến Nguyễn Công Hoan, người ta không chỉ nhớ đến một cây bút trào phúng tài năng. Người ta còn nhớ đến một nhà văn đã dành cả đời để nhìn thẳng vào bóng tối của xã hội và dùng ngòi bút của mình thắp lên tiếng nói của sự thật, lòng thương người và khát vọng về một cuộc sống công bằng hơn.



