Nguyễn Đình Trạc
Nguyễn Đình Thạc - Nhà văn, nhà báo góp phần thành lập Hội
tên thật là Nguyễn Đình Thạc, sinh năm 1917 trong một gia đình có truyền thống Nho học và yêu nước ở Hà Nội. Ông nội ông là cụ Nguyễn Văn Viễn, quê ở Đông Lao, Hà Đông, từng tham gia nghĩa quân chống thực dân Pháp và ủng hộ nghĩa quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc. Được nuôi dưỡng trong một gia đình có truyền thống ấy, Như Phong tuy được học tại trường Bưởi nhưng từ sớm đã không bằng lòng với cuộc sống của một thanh niên con nhà khá giả. Những năm 1935–1937 trở thành bước ngoặt quan trọng khi ông trăn trở trước câu hỏi phải đi theo hướng nào, phải làm gì trước cảnh nhân dân còn lầm than. Ông bắt đầu viết nhiều truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực phê phán như Kỳ, Người ở tù về, Gái nhỡ thì, Cái chết, Hai bà cháu… Những trang viết ấy phần nào thể hiện sự bức bối của một trí thức trẻ trước xã hội bất công và khát vọng tìm kiếm một con đường có ý nghĩa hơn cho cuộc đời. Qua hoạt động báo chí và những lần tiếp xúc với công nhân, thợ thủ công, thanh niên ngoại thành cùng Nguyễn Thường Khanh, ông dần hiểu hơn đời sống của người lao động. Đặc biệt, những cuộc trao đổi với các đảng viên cộng sản và việc tiếp xúc với sách báo Marxist, văn học Xô viết đã mở ra cho ông một chân trời tư tưởng mới.
Từ cuối những năm 1930, Như Phong ngày càng gắn bó với hoạt động báo chí cách mạng. Căn nhà số 36 của gia đình ông ngay trước chợ Đồng Xuân từng là nơi lui tới của Nguyễn Thường Khanh, Nguyên Hồng và nhiều người làm báo trong những năm 1938–1939. Tại đây, họ vừa làm báo, vừa trao đổi về những vấn đề của xã hội và tìm kiếm một hướng đi cho tuổi trẻ. Năm 1939, Như Phong bị bắt khi đang làm báo Mới và bị giam tại Hỏa Lò. Ra tù, những người đồng chí, bạn bè của ông mỗi người một nơi, nhưng ông vẫn tiếp tục tìm cách nối lại mối liên hệ với phong trào. Khoảng mùa xuân năm 1943, ông được nhà văn Học Phi tìm đến và trao đổi về việc thành lập một tổ chức tập hợp văn nghệ sĩ theo chủ trương của Trung ương. Tại cuộc họp bí mật ở số 11 Hàng Đường, Như Phong cùng Học Phi, Vũ Quốc Uy và Ngô Lê Động chính thức tham gia thành lập Tổ Văn hóa Cứu quốc. Đây là một bước quan trọng dẫn tới sự ra đời của Hội Văn hóa Cứu quốc ở Hà Nội. Điều đáng nhớ là cuộc họp diễn ra ngay phía sau một cửa hàng bán đường, mứt rất bình thường; những người tham dự vừa bàn công việc bí mật vừa phải giữ vẻ tự nhiên để tránh sự chú ý. Chính từ những cuộc gặp tưởng như nhỏ bé ấy, một tổ chức văn hóa của phong trào cứu quốc từng bước hình thành.
Sau đó, các cuộc họp xúc tiến thành lập Hội Văn hóa Cứu quốc tiếp tục được tổ chức tại nhiều địa điểm bí mật ở Hà Nội. Đầu thu năm 1943, tại căn nhà số 124 phố Lô cốt Bắc, nay thuộc khu vực phố Phó Đức Chính, các văn nghệ sĩ như Như Phong, Vũ Quốc Uy, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Đình Thi… cùng tham gia những cuộc họp quan trọng dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Quang Đạo. Tại đây, họ được nghiên cứu Đề cương về văn hóa Việt Nam và xác định phương hướng hoạt động của Văn hóa Cứu quốc. Như Phong ngày càng nhận thức rõ trách nhiệm của người nghệ sĩ trước vận mệnh dân tộc. Khoảng giữa năm 1944, ông viết một bài tiểu luận về nhiệm vụ chống phát xít của các nhà văn, gửi Trường Chinh và Mười Hương, trong đó thể hiện quan niệm rằng văn nghệ sĩ không thể đứng ngoài cuộc sống mà cần dấn thân vào cuộc cách mạng, đưa văn học nghệ thuật đến gần nhân dân. Đến tháng 7/1945, Hội Văn hóa Cứu quốc đã có khoảng 30 hội viên. Như Phong cùng Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi và Lưu Văn Lợi còn về Dục Tú, quê Nguyễn Huy Tưởng, để chuẩn bị xuất bản Tiên phong, cơ quan ngôn luận của Hội. Trong ngôi nhà cổ yên tĩnh, mỗi người tìm một góc để viết; có người ngồi ở bàn, có người lấy mặt sập thờ làm bàn. Số báo đầu tiên đã hoàn thành nhưng việc in ấn không theo kịp tốc độ của những biến động cách mạng. Đến khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, tờ báo vẫn chưa kịp in xong.
Trong những ngày sôi động trước Cách mạng tháng Tám, Như Phong tiếp tục hoạt động tích cực trên mặt trận báo chí. Đêm 17/8/1945, ông cùng Ngô Lê Động đến nhà in báo Tin mới và cùng các đồng chí tìm cách đưa tin về cuộc mít tinh, tuần hành của nhân dân Hà Nội. Sáng hôm sau, thông tin ấy được truyền đi, góp phần cổ vũ không khí đấu tranh đang dâng lên mạnh mẽ ở Thủ đô. Sau Cách mạng tháng Tám, Như Phong tham gia Chi bộ báo Cứu quốc, trở thành đảng viên và tham gia Ban Chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc, đồng thời làm biên tập viên báo Cứu quốc. Trong những năm kháng chiến, ông tiếp tục phụ trách nhiều tờ Cứu quốc ở các địa bàn khác nhau. Sau ngày Hà Nội được giải phóng, ông đảm nhiệm các công tác về văn hóa, văn nghệ, tham gia Ban biên tập báo Nhân Dân. Năm 1965, ông trở thành Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học, đúng vào thời điểm miền Bắc và Hà Nội bước vào những năm tháng chiến tranh ác liệt. Trong hoàn cảnh sơ tán khó khăn, ông vẫn cùng đồng nghiệp duy trì hoạt động xuất bản, giới thiệu nhiều tác phẩm văn học Việt Nam và thế giới có giá trị như Những người khốn khổ, Sông Đông êm đềm, Ruồi Trâu, Truyện Kiều, thơ văn Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương…
Không chỉ có đóng góp trong việc xây dựng nền văn hóa cách mạng từ những ngày đầu, Như Phong còn được nhiều thế hệ văn nghệ sĩ nhớ đến như một người luôn quan tâm và tạo điều kiện cho những cây bút trẻ. Trong thời gian làm việc tại Nhà xuất bản Văn học, ông đã khuyến khích và tạo cơ hội để nhiều tác giả trẻ như Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm… sớm được giới văn học biết đến. Những người từng làm việc cùng ông nhắc đến một Như Phong khảng khái, thẳng thắn, phân minh nhưng cũng trọng tình nghĩa và thủy chung với bạn bè, đồng chí. Ông qua đời năm 1985, để lại một di sản gồm cả sáng tác văn học, hoạt động báo chí và những đóng góp quan trọng cho đời sống văn hóa Việt Nam. Nhìn lại cuộc đời Như Phong, có thể thấy một điểm xuyên suốt: từ một thanh niên Hà Nội từng đứng trước “ngã ba thời đại”, ông đã lựa chọn con đường gắn văn chương, báo chí và hoạt động văn hóa với vận mệnh dân tộc. Và chính trong những cuộc họp bí mật của Tổ Văn hóa Cứu quốc năm 1943, ông đã góp một phần quan trọng vào việc hình thành tổ chức tập hợp những trí thức, văn nghệ sĩ cùng hướng tới một nền văn hóa mới của đất nước.



