Nguyễn Du – Đại thi hào dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.
Nguyễn Du không chỉ là một thiên tài văn học mà còn là một trái tim nhân đạo lớn lao của dân tộc Việt Nam. Đi qua một thời đại bão táp với muôn vàn biến động, ngòi bút của ông chưa bao giờ thôi trăn trở, xót thương cho những kiếp người nhỏ bé, đặc biệt là người phụ nữ tài hoa bạc mệnh. Mỗi trang viết của Đại thi hào giống như một dòng nước mắt thấm đẫm nỗi đau nhân sinh, đồng thời là tiếng nói đanh thép tố cáo thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người. Chính sự thấu cảm sâu sắc và lòng trắc ẩn mênh mông ấy đã đưa tầm vóc của Nguyễn Du vượt qua mọi giới hạn thời gian, đưa những kiệt tác như Truyện Kiều sống mãi trong tâm hồn các thế hệ người Việt.

BÀI LÀM :
Đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820) không chỉ là một thiên tài văn học chói lọi của dân tộc Việt Nam mà còn là một danh nhân văn hóa thế giới, người đã đưa ngôn ngữ và hồn cốt Việt chạm đến đỉnh cao của nghệ thuật cổ điển [Nguyễn Du]. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một tấm gương phản chiếu chân thực vầng hào quang rực rỡ nhưng cũng đầy bi kịch của một giai đoạn lịch sử đầy biến động cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX [Nguyễn Du].

Xuất thân trong một gia đình đại quý tộc danh gia vọng tộc bậc nhất kinh thành Thăng Long, có cha là Tể tướng Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Du sớm được tắm mình trong nhung lụa và nền học vấn uyên bác [Nguyễn Du]. Thế nhưng, cơn lốc dữ dội của thời cuộc với sự sụp đổ liên tiếp của các triều đại Lê - Trịnh, sự trỗi dậy của phong trào Tây Sơn rồi đến sự thiết lập của vương triều Nguyễn đã hoàn toàn đánh nát cuộc sống bình yên của chàng thư sinh quý tộc [Nguyễn Du]. Gia đình ly tán, quê hương biến động, Nguyễn Du bị đẩy vào một hành trình lưu lạc đầy cay đắng suốt mười năm ròng rã, được gọi là quãng đời "thập niên phong trần" [Nguyễn Du]. Chính mười năm sống trong bùn nhơ của xã hội, trải qua cái đói, cái rét và chứng kiến tận mắt nỗi khổ đau tột cùng của nhân dân lao động đã làm thay đổi hoàn toàn nhãn quan của ông. Nó đã chuyển hóa một công tử đài các thành một người nghệ sĩ có trái tim nhân đạo mênh mông, biết đau nỗi đau của nhân thế và biết khóc cho những kiếp người nhỏ bé bị chà đạp ở tầng lớp đáy [Nguyễn Du]. Khi ra làm quan dưới triều Nguyễn, dù thăng tiến đến chức Cần Chánh điện Học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Du vẫn luôn giữ một thái độ u uất, trầm mặc bởi ông luôn trăn trở trước thế sự thực tại [Nguyễn Du]. Sự kết hợp giữa tài năng ngôn từ thiên bẩm, tri thức uyên bác và một tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn đã kết tinh thành một di sản văn học đồ sộ vô tiền khoáng hậu [Nguyễn Du]. Ở mảng chữ Hán, với ba tập thơ xuất sắc, ông gửi gắm những suy tư trăn trở về cuộc đời và con người [Nguyễn Du]. Ở mảng chữ Nôm, kiệt tác "Truyện Kiều" (Đoạn trường tân thanh) đã trở thành sách gối đầu giường của bao thế hệ, nơi ông nâng niu vẻ đẹp và xót thương cho số phận bi kịch của người phụ nữ tài hoa bạc mệnh qua thể thơ lục bát truyền thống đầy nhạc điệu [Nguyễn Du, Truyện Kiều]. Bên cạnh đó, áng văn "Văn chiêu hồn" lại là một đỉnh cao của lòng nhân ái rộng lớn, hướng tình thương đến cả những linh hồn cô đơn, bơ vơ không nơi nương tựa [Nguyễn Du]. Tóm lại, cuộc đời đầy thác ghềnh hòa quyện cùng tư tưởng nhân văn sâu sắc đã biến Nguyễn Du thành một cây đại thụ sừng sững của nền văn hiến nước nhà, người đã dùng ngòi bút của mình để viết nên khúc ca nhân sinh bất tử vang vọng qua muôn vàn thế kỷ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.



