Nguyễn Hữu Dật
Nguyễn Hữu Dật (1604-1681) Ông sinh năm Giáp Thìn 1604, quê gốc ở làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung), tỉnh Thanh Hóa. Làm quan giúp chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) từ khi 18 tuổi rồi trở thành một viên tướng xuất sắc, có nhiều mưu lược.
Nguyễn Hữu Dật (1604-1681)
Ông sinh năm Giáp Thìn 1604, quê gốc ở làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung), tỉnh Thanh Hóa. Làm quan giúp chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) từ khi 18 tuổi rồi trở thành một viên tướng xuất sắc, có nhiều mưu lược.
Ông đã cầm quân đi đánh họ Trịnh nhiều lần và liên tiếp giành được thắng lợi. Cùng với Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến là ba trụ cột của chúa Nguyễn Đàng Trong.
Ông cũng làm trấn thủ Quảng Bình nổi tiếng là nhân hậu, dân chúng ở đây tôn ông là Phật bồ tát, khi ông mất được tặng tước quận công và thờ ở Võ Miếu.
|
Phan Thanh Giản – Vị tiến sỹ đầu tiên đất Nam Kỳ. |
Phan Thanh Giản (1798-1867)
Ông có hiệu là Mai Xuyên, Lương Khê, người làng Bảo Thạch, tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Nhà nghèo nhưng chăm học, năm 1826 ông đỗ Tiến sỹ, là vị Tiến sỹ đầu tiên của Nam Kỳ. Ông làm quan dưới triều Nguyễn, làm nhiều chức quan từ lang trung, viên ngoại đến thượng thư.
Năm 1862 ông dẫn đầu phái đoàn triều đình Huế cùng Lâm Duy Hiệp và Gia Định nghị hòa với Pháp, nhường cho Pháp 3 tỉnh Miền Đông Nam Kỳ (hiệp ước ngày 5/6/1862) gồm Gia Định, Đinh Tường, Biên Hòa và đảo Côn Lôn, năm sau (1863) ông đứng đầu phái đoàn sứ bộ Huế đi sang Pháp để thương thuyết chuộc lại 3 tỉnh Miền Đông nhưng không thành, sau đó quân Pháp đã chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ.
Triều đình và một bộ phận nhân dân đã lên án ông rất gay gắt, cách chức, đục tên khỏi bia tiến sĩ, ông đã uống thuốc độc để kết liễu cuộc đời mình. Về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản đến ngày nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa ngã ngũ, có nhiều ý kiến trái chiều nhau về công và tội của ông, song đối với nhân dân Nam Kỳ ông là một con người tài năng và đức độ. Năm 1886 ông được triều đình khôi phục lại chức cũ.



