Nguyễn Thị Ánh
Ngày 17/2/1968, ông nhập ngũ, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngày 17/9/1969, ông lên đường ra trận, chính thức bước vào những năm tháng sinh tử nơi chiến trường. 🇻🇳 Trong Chiến dịch 139 (năm 1969), ông cùng đồng đội chiến đấu trên đất bạn Lào, tham gia giải phóng Cánh đồng Chum, thuộc Sư đoàn 312 – Quân đoàn 1. 🇻🇳 Năm 1970, đơn vị hành quân ra Bắc, đến năm 1971 lại tiếp tục sang Lào chiến đấu lần thứ hai trong Chiến dịch 47B. Năm 1972, đơn vị ra Bắc, tham gia Chiến dịch Quảng Trị
Chiều ngày 27 tháng 1 năm 2026 Chi đoàn giáo viên và các em học sinh Liên đội Trường Tiểu học Tam Cường vinh dự được đến thăm và lắng nghe câu chuyện thời hoa lửa của ông Lương Duy Thuận – sinh năm 1950, quê thôn Tam Cường 7, xã Vĩnh Am, một người lính đã đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh với trái tim kiên trung và ký ức không thể phai mờ.
Ngày 17/2/1968, ông nhập ngũ, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.Ngày 17/9/1969, ông lên đường ra trận, chính thức bước vào những năm tháng sinh tử nơi chiến trường.
Trong Chiến dịch 139 (năm 1969), ông cùng đồng đội chiến đấu trên đất bạn Lào, tham gia giải phóng Cánh đồng Chum, thuộc Sư đoàn 312 – Quân đoàn 1.
Năm 1970, đơn vị hành quân ra Bắc, đến năm 1971 lại tiếp tục sang Lào chiến đấu lần thứ hai trong Chiến dịch 47B.Năm 1972, đơn vị ra Bắc, tham gia Chiến dịch Quảng Trị.Tháng 4/1973, giải phóng Quảng Trị và từ đó đến tháng 3/1975, ông tiếp tục tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân thống nhất đất nước.
Ông chia sẻ: “Chiến dịch nào cũng để lại những ký ức không thể quên” – đó là ký ức về bom đạn, về ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, về những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Điều khiến người nghe lặng đi xúc động là dù đã trải qua bao thời gian, ông vẫn nhớ rất rõ từng ngày, từng tháng, từng năm, nhớ tên từng người đồng đội, kể cả những người chỉ biết tên mà chưa từng gặp mặt.
Ông nghẹn ngào nhắc lại câu thơ của đồng chí Lê Bá Dương, người cùng đơn vị:“Thuyền xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ,Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.Có tuổi đôi mươi thành dũng sĩ,Giữ yên bờ cõi mãi ngàn năm.”
Câu chuyện thời hoa lửa của ông không chỉ là lịch sử, mà là lịch sử sống, là bài học sâu sắc để giáo dục thế hệ trẻ hôm nay biết tự hào về truyền thống dân tộc, biết trân trọng hòa bình, nỗ lực học tập, rèn luyện và cống hiến, xứng đáng với những hy sinh cao cả của cha anh đi trước.


