Mẹ Việt Nam Anh hùng

NGUYỄN THỊ THỨ - BIỂU TƯỢNG HY SINH BẤT TỬ CỦA MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

NGUYỄN THỊ THỨ - BIỂU TƯỢNG HY SINH BẤT TỬ CỦA MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

Thái Nguyên06/03/2026Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doan (Đại học Thái Nguyên)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

I. Cuộc đời

Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Danh hiệu “Mẹ Việt Nam anh hùng” chính là sự nghi nhận cao quý của Đảng và Nhà nước dảnh cho những người mẹ đã hi sinh thầm lặng vì đất nước. Trong mạch nguồn thiêng ấy, mẹ Nguyễn Thị Thứ (1904-2010), thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hiện lên như một tượng đài bất tử: chín người con trai, hai cháu ngoại và một con rể ngã xuống vì độc lập, tự do, mười hai liệt sĩ từ một mái nhà tranh cát trắng của mẹ.

Tiếng ru của mẹ hòa trong bom đạn, nuôi lớn những trái tim quả cảm. Dáng hình gầy guộc của mẹ là hiện thân của ý chí bền bỉ, lòng yêu nước thầm lặng mà vĩ đại, di sản tinh thần cần được gìn giữ và lan tỏa bằng hành động mỗi ngày. Mẹ Nguyễn Thị Thứ Sinh ra và lớn lên giữa miền Trung nắng gió, mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm thấm thía thế nào là nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Mười tám tuổi, mẹ nên duyên với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền hậu, chất phác. Mười hai lần vượt cạn là mười hai lần mẹ đón lấy niềm vui xen lẫn nỗi lo canh cánh vì cái nghèo đeo bám. Cuộc đời mẹ gắn liền với hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc: kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ.

II. Những hy sinh lớn lao của Mẹ Nguyễn thị Thứ

Khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, ông Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà mình.” Từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và không trở lại. Người con thứ ba, Lê Tự Xuyến, giao liên, hy sinh năm 1948. Chưa đầy mười ngày sau, người con thứ tư, Lê Tự Hàn, cũng ngã xuống khi đang tải thương. Cùng tháng đó, người con thứ năm, Lê Tự Hãn, hy sinh trên mặt trận Điện Bàn. Đầu tháng 4 năm 1954, đến lượt người con thứ sáu, Lê Tự Lem, ra đi khi mới vừa tròn hai mươi tuổi. Năm 1966, người con thứ bảy, Lê Tự Nự, bỏ mình ở mặt trận Khu 5. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, hai người con, Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh, cùng hy sinh. Và mẹ Thứ từng khấp khởi mong ngày người con trai cả, anh Lê Tự Truyện, trở về khi chiến dịch giải phóng Sài Gòn tiến đến hồi kết. Nhưng khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Truyện, chiến sĩ tham gia tiến công vào nội đô, đã anh dũng hy sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn toàn thống nhất.

Không chỉ các con, con rể của mẹ, ông Ngô Tường, cũng bị giặc Pháp tra tấn đến kiệt sức và qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại, Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điều, lần lượt hy sinh trong mưa bom đạn những năm 1973 và 1974, khi tuổi đời còn rất trẻ. Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa sâu vào lòng mẹ. Nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa, lửa của lòng tin yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục, lửa nung chảy nỗi căm thù để tiếp tục tiếp sức cho kháng chiến.

III. Công lao thầm lặng

Không chỉ tiễn con, mẹ còn trực tiếp làm “pháo đài sống” giữa hậu phương. Vườn nhà được mẹ và con gái cả Lê Thị Trị bí mật đào ba căn hầm sâu, nguỵ trang bởi bụi tre và gốc mít. Nơi đó, cán bộ Khu 5 họp bàn tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước khi xuất kích. Cựu chiến binh Lê Tự Tân kể: “Tôi chui xuống hầm thấy nồi cơm đồng to như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm chuyền từng tay, hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà”. Địch càn quét, mẹ khoác nón lá, ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu cửa hầm. Đêm đến, bên ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang tiếp tế. Cuối năm 1948, ba khăn tang liên tiếp phủ tóc bạc, song mẹ vẫn viết thư cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước”. Lời nhắn ấy đi suốt chiến trường, tiếp sức cho bao quân nhân.

Tết Mậu Thân 1968, pháo sáng rạch nát bầu trời Điện Bàn, mẹ đứng giữa ruộng ngập nước nhìn về núi Thành Mỹ nơi Lê Tự Nự đang gài mìn. Hè đỏ lửa 1972, khi nhận tin Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh hy sinh, mẹ lịm đi, tỉnh lại liền dặn con gái: “Lo hương khói cho anh, rồi tiếp tục nuôi quân”. Ngôi nhà lá biến thành đài Liệt sĩ thu nhỏ: chín bằng Tổ quốc ghi công kê kín vách, di ảnh con rể và hai cháu đặt chính giữa. Mẹ bảo người đến viếng: “Mẹ còn hơi thở là còn lo cho cách mạng”. Năm 1998, phóng viên Hàn Quốc hỏi: “Vì sao bà tiếp tục động viên con ra trận khi đã mất bốn, năm người?”. Mẹ điềm đạm: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Còn giặc thì còn đi”. Câu trả lời khiến vị khách cúi đầu xin lỗi, bởi ông hiểu sự hy sinh phi thường mà chiến tranh áp đặt lên một người mẹ Việt Nam.

IV.Sự tưởng niệm và tri ân của đất nước

Ngày 17-12-1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ VNAH đợt đầu tiên cho 19.879 bà mẹ, trong đó có mẹ Thứ. Trân trọng với những gì các Bà mẹ VNAH đã cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân, năm 2004, Đảng và Nhà đồng ý xây dựng quần thể tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng. Ngày 27-7-2009, công trình được khởi công tại núi Cấm (thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, TP.Tam Kỳ, Quảng Nam) rộng 150.000m2 (15ha); hoàn thành ngày 24-3-2015. Đây là tượng đài Bà mẹ VNAH lớn nhất nước.Đặc biệt, công trình lấy nguyên mẫu từ mẹ Nguyễn Thị Thứ. Với ý tưởng: Mẹ là suối nguồn bao la vô tận, là linh hồn đất nước. Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, rồi sinh ra những người con anh hùng và sẽ lại hoá thân vào đất, vào non nước Việt Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời, vẫn tiếp thêm nguồn sức mạnh mẽ cho các thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Họa sĩ Đinh Gia Thắng đã thể hiện bức tượng mẹ Thứ (cao 18,5m, rộng 84,7m). Bên trong tượng đài là Nhà tưởng niệm Mẹ Việt Nam Anh Hùng, có bia ghi danh gần 50.000 Mẹ Việt Nam Anh Hùng cả nước; giới thiệu hình ảnh, cuộc đời và sự cống hiến của các Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng

V. Trách nhiệm của thế hệ sau này

Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ là thiên anh hùng ca khắc bằng máu và nước mắt, soi rọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ngọn lửa trong tim mẹ đã đốt cháy mọi sợ hãi, để lại nguồn sáng cửu cho nhân dân. Tri ân mẹ không thể dừng ở cảm xúc nhất thời, mà phải biến thành hành động cụ thể: học tập suốt đời, lao động hăng say, dấn thân khi Tổ quốc gọi tên. Cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Lục quân hôm nay hiểu rằng tiếp bước mẹ là nhiệm vụ thiêng liêng: ngày ngày rèn luyện bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, phát huy nghiên cứu khoa học quân sự, làm chủ công nghệ mới, kiên quyết giữ vững chủ quyền lãnh thổ. Mỗi dòng mã lập trình hệ thống tác chiến mô phỏng, mỗi đường bút trên bản đồ hành quân, mỗi giọt mồ hôi trên sân bắn đều là hạt giống hòa bình. Chiều xuống, đứng trước tượng đài mẹ trên núi Cấm, ta nghe gió biển Trường Sa thổi qua vầng đá hoa cương, như lời mẹ nhắn: “Các con ơi, non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa”. Đó là lời thề bất diệt, là mệnh lệnh mềm mại nhưng hùng hồn, dẫn dắt lớp trẻ dựng xây nước Việt hùng cường, để bầu trời độc lập nở mãi những đoá hoa do mẹ tưới bằng máu và tình yêu vô hạn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn