NGUYỄN THỊ THỨ - BIỂU TƯỢNG VĨNH HẰNG CỦA NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những câu chuyện được viết nên trong thời hoa lửa vẫn còn nguyên sức lay động đối với mỗi thế hệ người Việt Nam hôm nay. Là một người con lớn lên trong thời đại hòa bình, em đến với lịch sử không chỉ bằng tri thức sách vở mà còn bằng sự lắng nghe, thấu hiểu và đối thoại với quá khứ. Cuộc thi “Câu chuyện thời hoa lửa” chính là cơ hội để em nhìn lại những con người đã làm nên lịch sử bằng cả cuộc đời và sự hy sinh thầm lặng của mình.
Bài viết này xoay quanh người mẹ Việt Nam Anh Hùng Nguyễn Thị Thứ – người mẹ đã lần lượt nhận những tờ giấy báo tử của những người con, người cháu trong các cuộc kháng chiến chống Pháp chống Mỹ – đề tài tái hiện rõ sự khắc nghiệt của chiến tranh, đồng thời khắc họa vẻ đẹp cao cả của người mẹ Việt Nam trong những năm tháng cam go nhất của dân tộc.
Viết về Nguyễn Thị Thứ, với em không chỉ là kể một câu chuyện lịch sử mà còn là hành trình trở về với cội nguồn với những giá trị cốt lõi của lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay.
Trong thời bình, khi được sống và học tập, chúng cần hiểu rằng hòa bình hôm nay là thành quả của biết bao sự hy sinh trong quá khứ. Từ câu chuyện thời hoa lửa ấy, em hy vọng bài viết có thể chạm tới cảm xúc của người đọc và góp thêm một tiếng nói nhỏ bé trong việc gìn giữ, lan tỏa những giá trị bền vững của lịch sử dân tộc.
I. Từ mảnh đất Quảng Nam đến người Mẹ vĩ đại
Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không trở lại của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Trong mạch nguồn thiêng ấy, người mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – vùng đất giàu truyền thống văn hóa và lịch sử.
Bà Thứ sinh ra và lớn lên giữa miền Trung nắng gió, đã sớm thấm thía thế nào là nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Năm mười tám tuổi, bà nên duyên với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền hậu, chất phác. Mười hai lần vượt cạn là mười hai lần bà đón lấy niềm vui nhưng cũng là những niềm đau khi sự khốc liệt của chiến tranh cũng lần lượt đưa các con của bà rời đi mãi mãi.
II. Khi Tổ Quốc cất tiếng gọi, sự chia xa cũng dần đến gần
Cách mạng Tháng Tám thành công chưa lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Tiếng súng chiến tranh vang lên, không chỉ ở chiến trường mà vọng tới từng bản làng heo hút nơi biên cương Tổ quốc.
Tuy nuôi con cháu trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ Thứ động viên, tiễn các con ra chiến trường. Khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, ông Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích.
Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà mình” 1 . Từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và không trở lại.
Mỗi lần đưa tiễn các con ra chiến trường, mẹ Thứ không chỉ là một người mẹ luôn ở phía sau chờ đợi các con trở, mà cũng là một hậu phương cho các con và các chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp chống Mỹ.
III. Khi sự hỗ trở, che chở, và chăm sóc trở thành sức mạnh
Những năm tháng thanh xuân của mẹ là cảnh liên tục chứng kiến chồng con vào chiến trường. Mẹ Thứ ở nhà tần tảo nuôi con và cháu khôn lớn. Suốt 30 năm, bà cần mẫn cùng các con đào hầm trong vườn để nuôi giấu chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật ngay trong lòng địch.
Bao đêm dài mẹ thao thức canh chừng nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ ngay dưới những căn hầm bí mật trong khu vườn nhà. Mẹ luôn để ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động.
Vườn nhà mẹ rộng, có 5 căn hầm bí mật. Quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để ngụy trang. Lúc an toàn, mẹ Thứ và các con mở hé cửa hầm để mọi người dễ thở và khi có động thì lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm
Nơi đó, các cán bộ họp bàn tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước khi xuất kích. Cựu chiến binh Lê Tự Tân kể: “Tôi chui xuống hầm thấy nồi cơm đồng to như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm chuyền từng tay, hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà” 2. Đêm đến, bên ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang tiếp tế.
Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích được gia đình mẹ Thứ chở che, chăm sóc nhận xét: “Mẹ hiền từ, nhiệt tình, thương anh em bộ đội giải phóng như con của mình.” 3. Cuối năm 1948, ba khăn tang liên tiếp phủ tóc bạc, song mẹ vẫn viết thư cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước” 4. Lời nhắn ấy đi suốt chiến trường, tiếp sức cho bao quân nhân.
IV. 14 lần tiễn người đi, 12 lần khóc thầm lặng lẽ
Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ.
Hiếm có người mẹ nào trên thế giới này mang nhiều nỗi đau và sự hy sinh cho Tổ quốc như mẹ Thứ. Trong chống Pháp và Mỹ, mẹ Thứ lần lượt nhận 9 giấy báo tử của 9 con trai và nhận tin con rể cùng 2 cháu ngoại hy sinh.
Người con trai thứ ba, Lê Tự Xuyến - chiến sĩ giao liên bị Pháp bắn tại đầu làng, hy sinh năm 1948. Chưa đầy mười ngày sau, người con trai thứ tư, Lê Tự Hàn (người anh) hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương và cùng tháng đó, người con thứ năm, Lê Tự Hàn (người em) hy sinh trong trận chống càn ở mặt trận Điện Biên. Là người con trai thứ sáu, Lê Tự Lem chỉ vừa mới tròn 20 tuổi đã hy sinh trong lúc chiến đấu ở huyện nhà vào đầu tháng 4 năm 1954. Trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất 5 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiến trường.
Đến năm 1966, người con trai thứ bảy, Lê Tự Nự bỏ mình ở mặt trận Khu 5. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, hai người con, anh Lê Tự Mười và anh Lê Tự Trịnh cùng hy sinh. Chưa đầy mười ngày sau, anh Lê Tự Thịnh - Ðại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên hy sinh trong lần chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc.
Và mẹ Thứ từng khấp khởi mong ngày người con trai cả, anh Lê Tự Chuyển, trở về khi chiến dịch giải phóng Sài Gòn tiến đến hồi kết nhưng khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Truyện, chiến sĩ tham gia tiến công vào nội đô, đã anh dũng hy sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn toàn thống nhất.
Không chỉ các con, con rể của mẹ Thứ, ông Ngô Tường, cũng bị giặc Pháp tra tấn đến mức tử vong và qua đời năm 1956, ông được công nhận là liệt sĩ. Mẹ Thứ còn 2 cháu ngoại là Ngô Thị Điểu bị giặc Mỹ bắt tra hỏi, hy sinh tháng 8-1970 và Ngô Thị Cúc hy sinh trong lần công tác vào vùng địch hậu năm 1973, khi tuổi đời còn rất trẻ.
Tết Mậu Thân 1968, pháo sáng rạch nát bầu trời Điện Biên, mẹ đứng giữa ruộng ngập nước nhìn về núi Thành Mỹ nơi Lê Tự Nự đang gài mìn. Hè đỏ lửa năm 1972, khi nhận tin Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh hy sinh, mẹ Thứ đã lịm đi. Ngôi nhà lá đơn sơ giờ đây biến thành đài Liệt sĩ thu nhỏ: chín bằng Tổ quốc ghi công kê kín vách, di ảnh con rể và hai cháu đặt chính giữa.
Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa sâu vào lòng mẹ. Nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa, lửa của lòng tin yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục, lửa nung chảy nỗi căm thù để tiếp tục tiếp sức cho kháng chiến.
V. Nghẹn lòng tri ân
Bất cứ ai có dịp về vùng đất Quảng Nam, ghé thăm "địa chỉ đỏ" Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng (khu vực núi Cấm, thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam) được nghe, được kể nhiều câu chuyện về Mẹ Thứ đều nghẹn lòng chực trào nước mắt. Và cũng từng đến thăm nhà mẹ Thứ để thấy hết sự đơn sơ, quá đỗi yên bình và đặc biệt là hình ảnh trên tường nhà: 12 bằng Tổ quốc ghi công và trên bàn thờ hương khói của 9 người con trai mẹ Thứ.
Mẹ Thứ đã được trao tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng vào năm 1994. Trân trọng với những gì các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng đã cống hiến cho tổ quốc, cho Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
VI. Sừng sững tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng
Năm 1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng đợt đầu tiên cho 19.879 bà mẹ, trong đó có mẹ Thứ. Trân trọng với những gì các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng đã cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân. Năm 2004, Đảng và Nhà nước đã thống nhất xây dựng tượng đài Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, lấy nguyên mẫu Mẹ Nguyễn Thị Thứ.
Công trình được khởi công tại núi Cấm (thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, Tam Kỳ, Quảng Nam) vào năm 2009 và hoàn thành ngày 24-3-2015. Đây là tượng đài Bà Mẹ Việt Nam anh hùng lớn nhất cả nước.
Đặc biệt, công trình lấy nguyên mẫu từ mẹ Nguyễn Thị Thứ. Với ý tưởng: Mẹ là suối nguồn bao la vô tận, là linh hồn đất nước. Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, rồi sinh ra những người con anh hùng và sẽ lại hoá thân vào đất, vào non nước Việt Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời, vẫn tiếp thêm nguồn sức mạnh mẽ cho các thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Họa sĩ Đinh Gia Thắng đã thể hiện bức tượng mẹ Thứ (cao 18,5m, rộng 84,7m). Bên trong tượng đài là Nhà tưởng niệm Mẹ Việt Nam Anh Hùng, có bia ghi danh gần 50.000 Mẹ Việt Nam Anh Hùng cả nước; giới thiệu hình ảnh, cuộc đời và sự cống hiến của các Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng
Đại tá Trần Hồng là nhà báo chuyên ghi lại hình ảnh về cuộc sống của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và chụp ảnh chân dung Mẹ Việt Nam anh dùng, là người đã chụp bức ảnh mẹ Thứ bên mâm cơm cúng các con. Ông đã chụp bức ảnh mẹ Thứ ngồi trước mâm cơm với 9 bộ bát đũa bày ra để tưởng nhớ các con và coi đó là sự sum vầy.
Đại tá, nhạc sĩ Doãn Nho đã viết về chi tiết này thành bài hát “Người mẹ Quảng Nam”: "Chín bát hương, chín khúc ruột tái tê/ Chín con ra đi không một đứa trở về/ Giọt lệ chảy dài như dòng sông quê mẹ/ Nỗi đau chất chồng cao tựa Trường Sơn… Mẹ yêu thương, mẹ anh hùng, mẹ của con/ Cả nước tự hào, ôi người mẹ Quảng Nam...”
*NGUỒN TÀI LIỆU:
Trích dẫn từ bài viết trên Báo Quân đội nhân dân.
Trích dẫn trong các bài viết tri ân trên Báo Quân đội nhân dân, Báo Quảng Nam và các tư liệu lịch sử về Mẹ Thứ.
Trích dẫn trong nhiều bài viết về Mẹ trên Báo Quảng Nam và tư liệu của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.
Trích dẫn từ trang thông tin Học viện Lục quân.
*NGUỒN ẢNH:
Hình ảnh“Bức tượng Mẹ Việt Nam anh hùng”: Báo Chính Phủ.
Hình ảnh “Bức ảnh chụp Mẹ Thứ cùng 9 cái bát, 9 đôi đũa”: Báo VietNamNet.
Hình ảnh “Gian thờ tự trong gia đình mẹ Thứ”: Báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh.


