Nguyễn Thụ
Đại tá Nguyễn Thụ sinh năm 1933 tại làng chiêm trũng nghèo Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Từ nhỏ, ông đã chứng kiến cảnh đất nước bị giặc Pháp áp bức, nô dịch.
Thấy nỗi đau của người dân mất nước trong đó có gia đình mình, ông Thụ xung phong nhập ngũ vào năm 1949, khi chưa đầy 16 tuổi, với suy nghĩ đi tham gia kháng chiến đánh đuổi giặc Pháp. Ông được biên chế vào Đại đội 42, Tiểu đoàn 84, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308.
Sau một tuần huấn luyện, ông cùng các đồng đội đi chiến đấu liên tục ở các chiến dịch trong những năm chống thực dân Pháp. Do có thành tích trong chiến đấu, năm 1952, ông Thụ khi đó 19 tuổi được chọn đi học sĩ quan khóa 7 tại trường Lục quân Việt Nam (nay là trường Sĩ quan Lục quân 1) ở Vân Nam, Trung Quốc.
Tốt nghiệp khóa học 1952-1953, ông được bổ nhiệm làm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 269, Tiểu đoàn 54, Trung đoàn 102, Đại đoàn 308.
Trong khi đang làm công tác chuẩn bị đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, ngày 26/1/1954, Đại đoàn 308 được lệnh lập tức sang Lào thực hiện Chiến dịch Thượng Lào (ngày 29/1-13/2/1954).
Kế hoạch này nhằm giúp nước bạn mở rộng vùng giải phóng và thực hiện nghi binh thu hút địch, đồng thời cô lập không cho địch chi viện từ Lào sang Điện Biên Phủ, buộc chúng chỉ còn một con đường là chi viện cho Điện Biên Phủ bằng đường không.
Hoàn thành giải phóng Thượng Lào, ngày 18/2/1954, ông Thụ cùng các đồng đội được lệnh trở về Điện Biên Phủ cùng tham gia chiến dịch tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của địch.
Sau thắng lợi giòn giã ở đợt tiến công thứ nhất, bước sang đợt 2, ngay trong đêm 30/3/1954, ta đồng loạt đánh vào 5 ngọn đồi ở phía đông Mường Thanh là A1, C1, C2, D, E.
"Trong đêm ấy, ta diệt gọn 3 cứ điểm C2, D, E; còn đồi C1, A1 hai bên giằng co, mỗi bên giữ một nửa và kéo dài cả tháng trời. Đánh đồi A1 chủ yếu là Đại đoàn 316 và Đại đoàn 308. Trận chiến ác liệt này, mặc dù địch bị tiêu diệt nhiều nhưng cán bộ, chiến sĩ ta cũng hy sinh, tổn thất rất lớn", ông Thụ xúc động kể lại.
Trung đội do ông Thụ chỉ huy được điều lên thay quân chiến đấu trên đồi A1 một ngày và gần 2 đêm. Quân số 16, được trang bị 2 trung liên, 4 tiểu liên, còn lại là súng trường, đảm bảo đạn mỗi đồng chí 2 đến 3 cơ số, có một máy thông tin 2W.
Thời gian này, trung đội chiến đấu nhiều trận rất ác liệt. Ông nói do tiếng pháo binh ta bắn mãnh liệt vào đồi A1 và pháo binh địch chống trả nên tai các chiến sĩ điếc đặc, không nghe được gì. Hiệp đồng và chỉ huy chiến đấu chỉ bằng quan sát ánh lửa đầu nòng súng của người chỉ huy.
Qua chiến đấu, trung đội của ông chỉ còn 5 đồng chí, còn lại là hy sinh và bị thương. Sau mỗi trận đánh, trung đội lại củng cố công sự, công sự nào tốt nhất thì dành cho thương binh khi chưa chuyển về tuyến sau được.
Đến khi đợt phản kích bắt đầu, do chỉ còn 5 người nên các thương binh có thể còn chiến đấu được cũng cầm súng chiến đấu. Pháo binh ta bắn dồn dập vào trận địa địch, quân địch kêu la inh ỏi và tháo chạy.
Sau trận chiến đấu này, một khẩu trung liên của trung đội bị hỏng, đạn và lựu đạn cũng gần hết, chiến sĩ thông tin hy sinh, máy 2W bị hỏng, trung đội mất liên lạc với sở chỉ huy Trung đoàn và pháo binh.



