Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nguyễn Tri Phương - Khí Tiết Người Con Cố Đô

Hà Nội27/09/2026Đoàn xã Quảng Điền (Đoàn xã Quảng Điền)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Tri Phương (1800-1873)

Trong thời bình ngày nay, người trẻ chúng ta, nhất là những người con sống ở miền đất Cố Đô Huế, có lẽ không ít lần đã nghe qua cái tên: Nguyễn Tri Phương. Nhưng ít ai thật sự biết đằng sau cái tên ấy lại gánh trên vai cả một sứ mệnh gìn giữ Tổ Quốc thiêng liêng biết bao.


Tên thật của ông là Nguyễn Văn Chương, sinh ra và lớn lên ở vùng đất Cố Đô Huế. Với gia cảnh gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc, lại chẳng xuất thân từ khoa bảng. Nhưng với ý chí bất khuất và tự lập, ông đã tự mình làm nên đại sự cơ nghiệp. Từ những năm 1820, Nguyễn Tri Phương khởi nghiệp hạ bút thành thơ ở Hương Điền (Nay là Phong Điền), rồi sớm được bổ vào bộ Hộ làm thơ lại. 3 năm sau (1823), vua Minh Mạng đề bạt ông hàm Điển bộ (Bí thư ở Nội điện). Đến 1845, ông cùng Doãn Uẩn đánh đuổi quân Xiêm để trấn giữ vùng biên Tây Nam. Tài năng và hành động của ông giúp ông được vua Thiệu Trị nhận xét là người gan dạ: "Gần đây có viên trung sứ từ quân thứ về nói: Nguyễn Tri Phương đối trận đánh nhau với giặc, đạn rơi xuống như mưa; tỳ tướng bẩm xin bỏ lọng đi để cho địch khỏi biết. Tri Phương quát lên, sai giương thêm 2 lọng nữa. Từ đấy, khí thế quân sĩ hăng hái gấp trăm lần, sẽ thu được thành công. Ví phỏng người nhút nhát đương vào việc ấy, liệu có khỏi mất tinh thần không ?".
Những năm sau đó lần lượt ông được phong tước Tráng Liệt, làm đại thần trong triều. (1847)
Sau khi Thiệu Trị mất, ông được tôn làm Phụ chính Đại thần. (1848)
Năm 1850, vua Tự Đức đã ban cho ông cái tên mà đã hằn in sâu vào tâm thức của hậu thế: Nguyễn Tri Phương.

8 năm sau sự "ra đời" của Nguyễn Tri Phương, Đà Nẵng lần đầu đối đầu với Pháp và tên đồng minh Tây Ban Nha. Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương làm Tổng thống quân thứ, trực tiếp chỉ huy quân Nguyễn. Quân Pháp có ưu thế rất lớn về vũ khí, nhưng hệ thống phòng thủ do Nguyễn Tri Phương tổ chức khiến quân Pháp không thể dễ dàng tiến sâu lên Bắc.

Sau khi bị cầm chân ở Đà Nẵng, quân Pháp chuyển hướng vào Gia Định. Năm 1861, Nguyễn Tri Phương tiếp tục được giao chỉ huy chống Pháp tại đây. Ông cho xây dựng đại đồn Chí Hòa, tổ chức phòng thủ và chống trả quyết liệt. Tuy nhiên, trước hỏa lực vượt trội của quân Pháp, đại đồn cuối cùng thất thủ; Nguyễn Tri Phương bị thương, em trai ông là Nguyễn Duy tử trận. Cái chết của người em trai là vết dao cứa thẳng vào lòng ông, nhưng trước sự tình ấy, ý chí bất khuất và lòng yêu nước nồng nàn đã giúp ông bước tiếp trên con đường chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ Quốc.

Sau đó, ông được điều ra Bắc. Trong những năm tiếp theo, Nguyễn Tri Phương tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách quân sự, rồi đến 1872 được giao xem xét việc quân sự ở Miền Bắc.

1873 năm ấy, Quân Pháp do Francis Garnier chỉ huy kéo ra Hà Nội, lấy cớ giải quyết tranh chấp giữa Jean Dupuis và chính quyền nhà Nguyễn. Nguyễn Tri Phương được cử làm Tổng đốc, trực tiếp giữ vững thành Hà Nội. Ông từ chối những yêu sách của Garnier, và đến sáng 20/11/1873, quân Pháp bất ngờ nổ súng tấn công thành. Nguyễn Tri Phương trực tiếp chỉ huy quân sĩ chống trả. Nhưng trước hỏa lực vượt trội của đối phương, thành Hà Nội cuối cùng thất thủ. Ông bị trọng thương, còn con trai ông, Phò mã Nguyễn Lâm, tử trận ngay trong trận đánh. Sau lưng ông là đứa con vừa nằm xuống; trước mặt ông là một thành trì đã mất. Nhưng ở giữa hai điều ấy vẫn còn một thứ chưa thể khuất phục: khí tiết của một người vì nước mà sống, vì nghĩa mà chết.

Khi ấy, quân Pháp tìm cách cứu chữa cho Nguyễn Tri Phương, nhưng ông từ chối. Ông nói:

“Bây giờ nếu ta chỉ gắng lay lắt mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa.”

Sau đó, ông tuyệt thực và qua đời ngày 20/12/1873, hưởng thọ 73 tuổi.

Qua cuộc đời của Nguyễn Tri Phương, ta có thể cảm nhận sâu sắc tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí bất khuất vượt lên nghịch cảnh của một con người, vì một Tổ Quốc ngày mai mà sẵn sàng hi sinh, cống hiến bằng chính sinh mệnh của mình. Vì thế, người trẻ chúng ta hãy tiếp bước, gìn giữ và phát triển di sản mà ông và những bậc tiền bối để lại, vì một kỉ nguyên vươn mình của Tổ Quốc Việt Nam!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn