Nguyễn Văn Thành (nhà Nguyễn)
Nguyễn Văn Thành (nhà Nguyễn)
Nguyễn Văn Thành (chữ Hán: 阮文誠; 1758–1817) thiếu thời đã theo cha chinh chiến, về sau là võ tướng, văn thần thời Nguyễn. Với những chiến công, những lời tấu chiến lược, ông đã góp công lớn giúp Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua lập ra nhà Nguyễn – vua Gia Long. Nhưng về sau, Gia Long nghi ngờ ông nên dựa vào một bài thơ của con trai Nguyễn Văn Thành để vu cho ông tội mưu phản, ra lệnh bắt giam rồi ép ông phải tự sát. Đây là một trong những vụ án diệt trừ công thần nổi bật nhất trong thời Gia Long, cùng với vụ án Đặng Trần Thường.
Thân thế
Nguyễn Văn Thành sinh ngày 13 tháng 11 âm lịch năm Mậu Dần (1758). Tiên tổ người xứ Thuận Hóa, phủ Triệu Phong, huyện Quảng Điền, tổng Phú Ốc, xã Bác Vọng. Tằng tổ là Nguyễn Văn Toán dời vào Gia Định. Tổ là Nguyễn Văn Tính lại dời đến ở Bình Hòa. Cha là Nguyễn Văn Hiền lại dời vào Gia Định.
Sử sách ghi: "Nguyễn Văn Thành trạng mạo đẹp đẽ, tính trầm nghị, thích đọc sách, tài võ nghệ".[1][2]
Năm Quý Tị 1773, ông cùng cha ra tận đất Phú Yên ngày nay để theo Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, chống Tây Sơn.
Năm Ất Mùi 1775, tháng 7 âm lịch, Phú Yên bị đánh úp, cai đội Nguyễn Văn Hiền tử trận.[3]
Năm Mậu Tuất 1778, ông theo Nguyễn Văn Hoàng đóng đồn ở Phan Rí. Khi Nguyễn Văn Hoàng mất, Nguyễn Ánh cho triệu ông về.
Năm Bính Ngọ 1786, ông cùng Lê Văn Quân giúp quân Xiêm đánh tan quân Miến Điện ở Sài Nặc (trên đất Xiêm, trong chiến tranh Xiêm Miến lần 7), vua Xiêm thán phục trở về đem vàng, lụa đến tạ, lại ngỏ ý một lần nữa giúp quân cho Nguyễn Ánh thu phục Gia Định. Nguyễn Ánh triệu chư tướng hội bàn, ông tâu rằng: "Vua Thiếu Khang chỉ một lữ còn dựng được cơ đồ nhà Hạ. Ta nuôi sức mạnh mà thừa chỗ sơ hở thì việc có thể làm được, lính Xiêm tàn ngược, không nên nhờ họ giúp, nếu nhờ binh lực họ mà thành công lại có sự lo sau, không bằng cứ yên tĩnh để chờ cơ hội là hơn". Vua cho là phải, nên việc ấy không nhắc đến nữa.[4]
Năm Đinh Mùi 1787, vào mùa thu, Đại Nam Liệt Truyện ghi: "...trận đánh ở Mỹ Tho, quân ta thất lợi. Hoặc có người bảo Thành về ẩn quê nhà, để đợi thời cơ. Thành nói rằng: 'Nghĩa cả vua tôi sống chết vẫn theo đi, sự thành bại nhờ trời, ta đoán trước sao được, và nhân bị quở mà đi, nhân thua mà trốn là phản phúc, tiền nhân ta không làm thế.'".[5]
Năm 1788:[6] Lấy Cai đội Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai tổng nhung cai cơ hiệu úy tiền chi dinh Trung quân. Thành, người xã Bác Vọng, huyện Triệu Phong, là người trì trọng nhiều mưu lược, khi nhỏ thường theo cha là Cai đội Nguyễn Văn Hiền đi đánh giặc, năm ất mùi, Hiền chết trận. Duệ Tông vời Thành trao cho chức Cai đội. Từ khi Sài Gòn thất thủ, Thành lẩn ở trong dân gian. Mùa thu năm Giáp thìn xa giá vua từ Xiêm về, lại theo đi đánh dẹp, đến đây mới trao cho chức ấy.
Năm 1790, quân Nguyễn tiến đánh Bình Thuận, Nguyễn Văn Thành phản đối không được, lại phải làm trung gian hòa giải giữa Lê Văn Quân và Võ Tánh. Thành sau lại cãi lệnh Quân không chịu đánh Diên Khánh. Khi Quân bị thua, chỉ mình Thành quay lại cứu, còn Võ Tánh vẫn về theo lệnh trước.[6]
Năm 1795,[6] Các quan văn võ là Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Khiêm, Nguyễn Thái Nguyên, Trần Phước Tri, Lê Quang Định và bọn cai cơ, cai đội, tri bạ, tham luận thấy việc quân rỗi rãi, thường cùng nhau chơi cờ bạc [đổ bác 賭博], chọi gà [đấu kê 鬬鷄], chọi cá [đấu ngư 鬬魚], được thua kể có trăm nghìn. Vua nghe biết, xuống chỉ quở trách. Bọn Văn Trương sợ hãi xin chịu tội. Vua đặc biệt rộng tha mà răn bảo thôi. Năm 1797: Vua từng nói về việc quân với Duyệt. Duyệt nhân nói Nguyễn Văn Thành là người mưu mà ít dũng, Tống Viết Phước dũng mà ít mưu, duy có Tôn Thất Hội thì trí dũng kiêm toàn, thực là tướng giỏi. Vua cho là phải.
Tháng 11 (âm lịch) năm 1800, Tiết chế Nguyễn Văn Thành cùng Lê Văn Duyệt đi giải vây thành Quy Nhơn.[7] Hai ông hợp quân đánh thắng một trận lớn, nhưng sau đó nảy sinh hiềm khích. Cũng sách trên chép: ...Thành hay uống rượu, lúc gần ra trận, cầm hồ rót rượu, rót cho Duyệt một chén và nói rằng: "Uống rượu để thêm sức mạnh". Ông Duyệt nói: "Ai tánh hay sợ mới uống rượu để cho thêm sức mạnh, còn như tôi thời trước mắt không coi (đó là) trận dữ, cần chi phải uống rượu". Thành có ý thẹn, từ đó giận Duyệt.[8][9]
Năm Tân Dậu 1801, ông lãnh ấn Khâm Sai Chưởng Tiền Quân, Bình Tây Đại tướng Quân, Điều bát chư đạo bộ binh, tước Quận Công.
Ông là người "biết chữ, hiểu nghĩa sách, biết đại thể, ở trong chư tướng, vua rất trọng Thành, không cứ việc lớn việc nhỏ đều hỏi để quyết đoán. Mỗi khi ông đến chầu vua cho ngồi thong dong hỏi han, ông cũng đem hết sức hiểu biết tiềm tàng, tình hình ngoài biên, sự đau khổ của dân, kế hoạch nhà nước, mưu kế việc binh, biết điều gì là nói hết, cũng nhiều bổ ích".[10]
Vua Gia Long từng triệu Nguyễn Đức Xuyên đến hành tại. Dụ rằng: “Nguyễn Văn Thành mưu việc cẩn thận kín đáo, có thể đương được một mặt. Nhưng hay kiêu ngạo, phần nhiều làm mất lòng tỳ tướng, nên lưu khanh ở đây để uốn nắn chỗ sai mà giúp việc nước”.[6]
Về tài cầm binh, Nguyễn Văn Thành là vị tướng "phân tích kỹ lưỡng, đâu là điểm mạnh, đâu là thế yếu, rồi mới quyết đoán, lúc tiến, khi lui nhằm giảm thiểu hao tổn tướng sĩ".[11]
Trong một truyền dụ của triều đình còn ghi: "quân ta giao tranh, đánh ba trận thắng ba trận, ta lấy được tuy chưa bắt được hết nhưng cũng là toàn thắng. Đó thực là do đại tướng giỏi cầm quân và các quân vui theo mệnh lệnh."
Năm Quý Dậu 1813, xác định rõ vị trí chiến lược quan trọng của Đà Nẵng nên nhà Nguyễn đã cho đo đạc cửa biển của địa danh này, kết hợp với việc vẽ bản đồ và bố trí thủy quân. ông được vua cử đi lập pháo đài Điện Hải và An Hải nằm hai bên tả hữu cửa biển sông Hàn, để kiểm soát thuyền bè ra vào và trấn giữ Đà Nẵng.[12]
Về sau, triều đình cho rằng các pháo đài này có thành trì vững mạnh hơn hẳn những pháo đài ven biển khác nên đặc cách cho gọi là thành.



