Nhà bác học uyên bác của thế kỷ XVIII
Lê Quý Đôn (1726–1784), tên thật là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2-8-1726 trong một gia đình có truyền thống khoa bảng ở làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay thuộc tỉnh Thái Bình. Cha ông là Lê Trọng Thứ, từng đỗ Tiến sĩ và giữ chức Hình bộ Thượng thư. Ngay từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thông minh, ham học và có trí nhớ đặc biệt. Năm 5 tuổi, ông đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi; năm 12 tuổi đọc các sách sử và Bách gia chư tử; 14 tuổi theo cha lên Thăng Long học tập. Năm 17 tuổi, ông đỗ Giải nguyên; đến năm 1752, ở tuổi 27, ông đỗ Hội nguyên rồi Đình nguyên Bảng nhãn. Từ đó, Lê Quý Đôn bước vào con đường làm quan dưới triều Lê – Trịnh, đồng thời bắt đầu một sự nghiệp trước tác kéo dài suốt cuộc đời.
Trong thời gian làm quan, Lê Quý Đôn được giao nhiều nhiệm vụ khác nhau, từ biên soạn quốc sử, giảng dạy ở Quốc tử giám đến thanh tra và xử lý công việc ở nhiều địa phương. Ông nổi tiếng là người thẳng thắn, dám nói những điều mình nhìn thấy và cho là đúng. Năm 1756, trong một chuyến thanh tra ở Sơn Nam, ông phát hiện nhiều quan lại tham nhũng và đã trình báo cụ thể để triều đình xử lý. Năm 1764, ông dâng sớ đề nghị thiết lập pháp chế vì nhận thấy một số quan lại lạm dụng quyền hành, nhưng đề nghị không được chấp thuận. Đến năm 1771, khi giữ chức Tả thị lang Bộ Công, quyền Đô Ngự sử, ông tiếp tục trình bày nhiều vấn đề liên quan đến việc tuyển dụng quan lại, quản lý ruộng đất và chỉnh đốn sổ sách. Những việc ấy cho thấy Lê Quý Đôn không chỉ là người có học vấn mà còn quan tâm đến những vấn đề thực tế của đời sống và quản lý đất nước.
Một bước ngoặt quan trọng trong quá trình mở rộng tri thức của Lê Quý Đôn là chuyến đi sứ nhà Thanh từ năm 1760 đến 1762. Trên đường đến Yên Kinh, ông từng lên tiếng khi các quan nhà Thanh gọi đoàn sứ Đại Việt bằng cách xưng hô mang tính miệt thị; sau đó cách gọi được thay đổi thành “An Nam cống sứ”. Trong thời gian ở Trung Quốc, ông gặp gỡ các sứ thần Triều Tiên, tiếp xúc với nhiều học giả và có cơ hội đọc những sách mà trong nước khó tiếp cận, trong đó có các tài liệu về địa lý thế giới, ngôn ngữ và thủy văn của phương Tây. Trải nghiệm ấy cùng những chuyến công cán ở nhiều vùng trong nước giúp ông tích lũy một vốn hiểu biết rất rộng. Chính Lê Quý Đôn từng kể rằng đi đến đâu ông cũng chú ý quan sát, những điều mắt thấy tai nghe đều ghi chép lại. Cách học từ sách vở kết hợp với khảo sát thực tế ấy góp phần tạo nên một học giả có kiến thức trên nhiều lĩnh vực.
Di sản lớn nhất mà Lê Quý Đôn để lại chính là khối trước tác đồ sộ. Ông viết về lịch sử, địa lý, văn học, triết học, chế độ chính trị, phong tục, sản vật và nhiều lĩnh vực khác. Vân đài loại ngữ được hoàn thành khi ông khoảng 30 tuổi, có tính chất như một bộ sách tổng hợp, hệ thống hóa nhiều tri thức đương thời. Về sử học có Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Bắc sử thông lục; khi làm Hiệp trấn Thuận Hóa, ông biên soạn Phủ biên tạp lục, ghi chép khá phong phú về tình hình xã hội Đàng Trong. Ông còn hoàn thành Toàn Việt thi lục gồm 6 quyển, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến thời Lê. Những công trình ấy cho thấy nỗ lực của ông trong việc thu thập, phân loại và hệ thống hóa tri thức của dân tộc.
Năm 1783, Lê Quý Đôn được cử làm Hiệp trấn Nghệ An nhưng sau đó lâm bệnh nặng và phải trở về quê. Ông qua đời ngày 1-5-1784 tại Nguyên Xá, quê mẹ, rồi được đưa về an táng ở quê nhà. Sau khi ông mất, triều đình cho bãi triều ba ngày để bày tỏ sự thương tiếc. Hơn hai thế kỷ sau, tên tuổi Lê Quý Đôn vẫn gắn với hình ảnh một học giả có vốn hiểu biết rộng và tinh thần làm việc đáng chú ý. Điều đặc biệt trong cuộc đời ông là tri thức không chỉ đến từ sách vở: ông vừa đọc, vừa đi, vừa quan sát và ghi chép những gì mình chứng kiến. Từ những chuyến đi sứ đến những lần khảo sát địa phương, từ công việc làm quan đến việc biên soạn sách, ông đã góp phần lưu giữ một lượng lớn tri thức về đất nước và xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII.



