Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NHẬT KÝ CHIẾN TRƯỜNG

Những đoạn nhật ký ghi lại cuộc sống chiến trường gian khổ và khốc liệt của người lính trong những năm 1966–1969: hành quân vất vả, thiếu thốn lương thực và quần áo, bom đạn liên tục, nhiều đồng đội hi sinh. Dù vậy, người lính vẫn giữ tinh thần kiên cường, lạc quan và quyết tâm chiến đấu vì Tổ quốc.

Lai Châu09/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 28 tháng 8 năm 1966

... Có bao giờ Mai ơi, có bao giờ Mai nghĩ rằng chiến trường nghĩa là: Dừng ở lưng đèo mà nghe suối hát không? Rồi lại ngắt một đoá hoa rừng, cài lên mũ ta đi không? Đừng vội nghĩ thế nhé, vì chiến trường không thơ mộng vậy đâu. "Dừng ở lưng đèo" có đấy, nhưng không phải để nghe suối hát, mà vì đã leo ba dốc, bốn đèo, chân chồn, gối mỏi nên phải dừng lại để thở. Chao ôi, thở ra đằng mồm, đằng mũi, thở ra cả lỗ tai nữa, còn đâu mà nghe suối hát?

Còn ngắt hoa sim cài lên mũ ư? Hoa rừng thường nhiều gai, mà mũ quân giải phóng thường hay sờn rách nên hoa tự mắc vào mũ. Thi sĩ thấy hình ảnh đó tưởng là quân giải phóng ngắt hoa cài lên mũ đó thôi. Quân giải phóng có ngắt là ngắt rau rừng giắt vào ba lô để tối đến nấu một bữa canh chua, bù lại sự mất mồ hôi, mất sức ban ngày, để ngày mai lại hành quân tiếp...

(Dốc Bà Bơi - An Lão)


28 tháng 1 năm 1968 (30 tết Mậu Thân)

Theo thường lệ thì Tết là ngày cuối năm cũ, ngày đầu của năm mới. Ngày mà người dân cố cầy cho xong mảnh ruộng cuối cùng, người công nhân làm cho xong sản phẩm cuối cùng, nghĩa là mọi người đã kết thúc công việc trong một năm, để vui chơi, giải trí, sau đó bắt tay vào công việc của một năm mới. Và theo phong tục Việt Nam, ngày Tết là ngày đoàn tụ gia đình. Tết còn là ngày hội lớn của tuổi trẻ, là ngày trăm hoa đua nở để đón Chúa xuân về.

Nhưng tất cả những hình ảnh trên đây đối với mình đã phải hiểu ngược lại. Tết đến những công việc đâu đã kết thúc. Sáng mùng một vẫn phải lau súng sẵn sàng chiến đấu bởi vì bên kia trận tuyến, súng đại liên địch vẫn nổ từng tràng; bọn mình vẫn phải ngồi kề miệng hầm vì nòng pháo địch đang quay về hướng ta. Tết là ngày đoàn tụ ư? Xung quanh mình đến chiếc lá tre cũng không còn màu xanh. Cỏ cây đều nhuộm màu vàng úa, màu của lựu đạn, màu của thuốc độc hoá học. Giặc Mỹ đã cướp đi tất cả những gì tốt đẹp nhất, êm ấm nhất, cổ truyền nhất của một ngày Tết cổ truyền của cha ông ta để lại, trừ tấm lóng son sắt, thuỷ chung của con người.

(Tại trạm giao liên xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, Bình Định)


14 tháng 2 năm 1968

... Lại một trận bom nữa. Hai chiếc F105 lồng lộn ném 6 quả bom giữa lúc mình đang tắm giặt, trần truồng như nhộng, vì quần áo chưa kịp khô, (chỉ có nhất bộ, trước khi tắm thì giặt chờ cho khô mới mặc). Thế là cháy trụi mất bộ quần áo vừa được hậu cần cấp bổ sung. Chiếc võng và tấm ni lông được xem như căn nhà cơ động, cũng thành tro bụi. Rất may, ở đây toàn lính đàn ông nên chỉ nhìn nhau cười xoà. Lần này là lần thứ năm mất hết đồ đạc. Tất nhiên còn người là quý lắm rồi. Song, trang bị vật chất cũng rất quan trọng. Rồi sẽ ra sao đây? Đơn vị sẽ cấp phát lại, nhưng đến bao giờ? Thôi muợn tạm quần áo cũ của anh em, vá lại mặc đỡ.

Đơn vị đang thiếu nhiều thứ đến mức trầm trọng. Súng đạn không đủ bổ sung; thuốc chữa bệnh không đủ cho thương, bệnh binh; dầu hoả không đủ cho bộ đội thắp... quần áo thì chưa kịp cấp phát, là điều dễ thông cảm.

(15 giờ tại thôn Thanh Mai, xã Nhơn Phong, An Nhơn, Bình Định).


Ngày 28 tháng 1 năm 1969

Hôm qua hành quân, một bà mẹ nói với mình: "Các con đi rồi, đến bao giờ các con trở lại? Mẹ đã nấu sẵn khoai lang và bầu, bí để các con ăn. Nhưng chưa kịp ăn thì các con lại đi". Đã bốn năm rồi, hôm nay mới được nghe giọng nói an ủi, vỗ về của một bà mẹ. Bốn năm qua không có ngày nào vắng tiếng bom rơi, đạn nổ, không có lấy một đêm ngủ yên giấc, không được nghe tiếng gà gáy, chó sủa... Ngay cả đến những con chim cu cũng phải bay đi xa vì bom đạn. Cuộc sống 4 năm qua lấy tăng, võng làm nhà; lấy rừng núi, suối khe làm bầu bạn; tiếng rít của máy bay phản lực thay cho tiếng trẻ reo hò, nghịch ngợm; tiếng đại bác rú thay cho tiếng còi tầm nhà máy...

Ôi, chiến tranh thật là khốc liệt. Thượng Cam Lĩnh của Trung Quốc cũng chẳng ăn thua gì. Vạn Lý Trường chinh ư? Cũng chẳng thấm vào đâu. Bọn mình còn có "Vạn Lý Trường Sơn cộng thêm bê năm hai nữa đấy".

(15 giờ tại Tịnh Trà, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi)


Ngày 20 tháng 12 năm 1969

Phong ơi! Nếu có nhà thơ nào đó viết mô tả miền Nam "20 năm không đêm nào ngủ được", thì chúng mình cũng đã đóng góp đến năm năm không đêm nào ngủ được rồi. Hai tháng rưỡi trời nằm phục kích ở đường 19, ăn củ sắn thay cơm, ăn củ riềng thay muối. Đến khi có lệnh về đồng bằng thì cũng là lúc giáp mặt với sư đoàn "kỵ binh bay", sư đoàn mạnh nhất của Mỹ.

Thế là:

Phất cờ búa liềm xông ra
Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng.


Nhưng Phong ơi! Khi mà đạn sắt đã bị quằn lại thì bên gan vàng cũng bị chọc thủng nhiều chỗ. Các bạn chiến hữu của chúng ta lần lượt đi gặp các cụ Các Mác, cụ Lê Nin, gặp Cụ Hồ cả rồi; Lộc (bạn cậu), Trọng, Trường, Dĩnh, Viên, Quý.v.v... và biết bao đồng chí nữa... Riêng Hài cũng đã mấy lần viết lên ngực áo "Thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh". Trong khi kẻ thù đã trang bị đến máy bay siêu âm, thì bên ta hoả lực cao nhất chỉ là cối 82ly. Với lực lượng và trang bị chênh lệch như thế thử hỏi, nếu không có lá gan bằng vàng thì làm sao địch nổi? Phải thế không Phong? Đến nay kẻ thù đã xuống thang, song nhiệm vụ còn nặng nề, Hài cũng xác định một lần nữa "Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn