NHỮNG CHIẾN SỸ DŨNG CẢM
Chúng tôi không có thời gian để khóc. Phải giữ Thành cổ bằng mọi giá
Nhân vật: Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hòa
(Sinh ra tại phường Thượng Lý - Thành phố Hải Phòng, tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972)
Ông Nguyễn Văn Hòa sinh năm 1953 trong một gia đình lao động ở Hải Phòng. Tuổi thơ ông lớn lên bên những bến cảng, nghe tiếng còi tàu vọng qua sông Cấm và chứng kiến thành phố nhiều lần oằn mình trong khói lửa chiến tranh. Chính những năm tháng ấy đã hun đúc trong ông ước nguyện được khoác áo lính.
Năm 1971, tròn 18 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, ông được điều vào chiến trường Trị – Thiên, tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị trong cuộc chiến 81 ngày đêm lịch sử mùa hè năm 1972.
Nhắc đến Trận Thành cổ Quảng Trị, giọng ông chậm lại. “Đó là nơi mà mỗi tấc đất đều thấm máu đồng đội,” ông nói.
Mùa hè năm ấy, bom đạn trút xuống Thành cổ gần như không ngớt. Ban ngày pháo bắn dồn dập, ban đêm là những trận phản kích giằng co từng góc tường đổ nát. Đất đá bị cày xới liên tục, cây cỏ cháy rụi, không khí đặc quánh mùi khói thuốc súng.
Ông Hòa khi ấy là chiến sĩ bộ binh. Nhiệm vụ của ông và đồng đội là giữ vững trận địa, thay nhau bám trụ trong giao thông hào ngập nước. Có những hôm vừa tiếp tế xong đã phải lao ngay vào chiến đấu. Lương thực ít ỏi, nước uống chia nhau từng ngụm, nhưng ý chí thì chưa bao giờ cạn.
Ông nhớ nhất một đêm mưa tầm tã. Pháo sáng rực lên soi rõ từng đoạn tường loang lổ. Một người bạn thân quê Thủy Nguyên đã ngã xuống khi đang chuyển đạn. Trước lúc đi, anh chỉ kịp nhờ ông gửi lời về gia đình. “Chúng tôi không có thời gian để khóc. Phải giữ Thành cổ bằng mọi giá,” ông kể.
Suốt 81 ngày đêm, những người lính trẻ tuổi mười chín, đôi mươi đã sống giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Họ gọi những quầng sáng pháo đạn xé trời là “hoa lửa” – thứ hoa rực rỡ nhưng cũng khốc liệt nhất của tuổi trẻ.
Sau chiến tranh, ông Hòa trở về Hải Phòng, mang theo trong tim ký ức không thể nào quên về Thành cổ. Ông lập gia đình, làm việc tại một xí nghiệp cơ khí rồi tham gia sinh hoạt Hội Cựu chiến binh phường. Mỗi dịp tháng Bảy, ông lại cùng đồng đội cũ trở về Quảng Trị thắp hương cho những người đã nằm lại.
Ông thường nói với con cháu:
“Chúng tôi đã gửi tuổi hai mươi ở Thành cổ để đất nước có ngày hòa bình. Các cháu hôm nay hãy sống sao cho xứng đáng với những người đã không trở về.”
Giờ đây, Thành cổ Quảng Trị đã xanh màu cỏ mới. Dòng người đến viếng lặng lẽ bước qua những bức tường phục dựng. Ít ai biết rằng, dưới lớp đất bình yên ấy là ký ức về một thời hoa lửa – nơi những chàng trai từ thành phố Cảng đã góp phần viết nên bản anh hùng ca bất tử.



