Những đóng góp của đồng chí Hồ Tùng Mậu trên các cương vị ở Liên khu IV và Thanh tra Chính phủ (1945-1951)
Nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh đồng chí Hồ Tùng Mậu, nhìn lại lịch sử thấy rõ đồng chí Hồ Tùng Mậu thực sự là một người cộng sản trung kiên, tấm gương đạo đức trong sáng, phong cách bình dị, là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những hoạt động và cống hiến của đồng chí trong Liên khu IV cũng như Ban Thanh tra Chính phủ không chỉ góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp mà còn để lại bài học kinh nghiệm, giá trị sâu sắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Bác Hồ và đồng chí Hồ Tùng Mậu. (Ảnh tư liệu) Đồng chí Hồ Tùng Mậu, tên thật là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15/6/1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An trong một gia đình khoa bảng và giàu truyền thống yêu nước. Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất, nhà tan, các phong trào đấu tranh đều bị dìm trong biển máu của kẻ thù; chính nhờ truyền thống yêu nước của quê hương, gia đình và các bậc cha ông đã hun đúc ý chí và tinh thần cho người thanh niên Hồ Tùng Mậu lòng yêu nước, căm thù quân xâm lược, chiến đấu giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và quyết định ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Với sự hoạt động sôi nổi tại nước ngoài, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Đây là dấu mốc trọng đại trong lịch sử bởi từ đây con đường cách mạng Việt Nam đã có một tổ chức lãnh đạo, định hướng đúng đắn cho toàn thể dân tộc Việt Nam thực hiện mục tiêu độc lập, tự do.Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ra đời, đánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử của dân tộc. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ những trở lực của phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và tiến lên xây dựng đất nước trong thời kỳ mới.Tuy nhiên, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối diện với những khó khăn chồng chất khi chính quyền còn non trẻ và hậu quả do chế độ cũ để lại, đặc biệt là nguy cơ “thù trong, giặc ngoài” đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Đầu tháng 9/1945, gần 30 vạn quân gồm quân đội Trung Hoa dân quốc, quân đội Anh và quân đội Pháp núp bóng tràn vào nước ta với nhiệm vụ giải giáp quân đội phát xít Nhật (1). Ngoài ra, Đảng và Chính phủ còn phải đối mặt với những thách thức lớn như “giặc đói” và “giặc dốt”. Rõ ràng, những khó khăn, thách thức tồn tại nêu trên đe dọa nghiêm trọng đến nền độc lập, tự do mà Đảng và nhân dân ta mới giành lại được; đặt chính quyền dân chủ nhân dân và vận mệnh dân tộc vào thế “nghìn cân treo sợi tóc”.Trong hoàn cảnh đó, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã được Đảng, Nhà nước tin tưởng giao phó những nhiệm vụ, trọng trách quan trọng khi chính quyền cách mạng còn non trẻ.Với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú và ý chí kiên cường của một người chiến sỹ cộng sản, đồng chí đã có những đóng góp thiết thực trong việc xây dựng và củng cố lực lượng cách mạng, góp phần không nhỏ trong công cuộc kiến thiết Tổ quốc thời kỳ sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.1. TRÊN CÁC CƯƠNG VỊ THUỘC LIÊN KHU IVNgày 15/10/1945, trước sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng vũ trang cách mạng và với mục đích đối phó với âm mưu quay lại xâm lược nước ta của thực dân Pháp và âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực phản động trong nước, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập 9 chiến khu trong cả nước, trong đó có Chiến khu IV (sau này là Liên khu IV). Chiến khu IV gồm 6 tỉnh Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược, tuyến giao thông nối liền hai miền Bắc - Nam, lại vừa tiếp giáp với vùng căn cứ cách mạng với nước bạn Lào; đây còn là khu vực chia cắt địch giữa Bắc Bộ và Trung Bộ, là hậu phương quan trọng của cách mạng.Nhận thấy rõ tầm quan trọng chiến lược của Chiến khu IV, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tin tưởng, giao nhiệm vụ cho Hồ Tùng Mậu là Chính ủy. Đồng chí là người thuộc lớp cán bộ cách mạng đầu tiên của Đảng, đã trải qua nhiều thử thách và nhận được sự tín nhiệm cao của Đảng giữ cương vị lãnh đạo trên địa bàn quan trọng này.Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã liên hệ với Xứ ủy Trung kỳ và 6 Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh trong Chiến khu để điều động cán bộ, huy động vật chất, nhanh chóng tổ chức hệ thống các cơ quan chỉ huy quân sự từ Chiến khu xuống đến các tỉnh. Khi đã ổn định được công tác tổ chức trong Chiến khu, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã quan tâm tới công tác Đảng, tích cực xây dựng tổ chức Đảng trong Chiến khu bộ, trong các chi đội của cả 6 tỉnh, hình thành hệ thống công tác chính trị - tư tưởng trong lực lượng vũ trang liên khu.Ngoài việc quan tâm tới xây dựng tổ chức Đảng, đồng chí Hồ Tùng Mậu cũng rất chú ý đến công tác xây dựng lực lượng và khắc phục tình trạng thiếu thốn về trang bị vũ khí trong Chiến khu IV. Toàn Liên khu đã khuyến khích, vận động nhân dân quyên góp tiền mua súng cho bộ đội để phục vụ cho công tác huấn luyện chuyên môn và sẵn sàng chiến đấu khi cần. Chỉ riêng ở Hà Tĩnh, sau một tháng vận động đóng góp, nhân dân đã góp tiền mua được hơn 300 khẩu súng trang bị cho Chi đội Phan Đình Phùng(2). Công tác chuẩn bị, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân sự cũng được đồng chí Hồ Tùng Mậu quan tâm, chỉ đạo. Ở các trường đào tạo tiểu đội trưởng trong Chiến khu IV, đồng chí chủ trương nâng mức đào tạo tiểu đội trưởng mỗi khóa lên một tháng, nội dung gồm cả quân sự, chính trị và hậu cần, đồng thời mở thêm lớp đào tạo trung đội trưởng. Bản thân đồng chí cũng trực tiếp phụ trách trường Quân chính của Xứ ủy Trung Bộ khai giảng khóa đầu tiên ngày 15/11/1945 tại Đại Nội (Huế).Cuối năm 1946, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thống nhất Quân sự Ủy viên hội và Bộ Quốc phòng thành Bộ Quốc phòng – Tổng chỉ huy để chuẩn bị lực lượng sẵn sàng đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Đồng chí Hồ Tùng Mậu được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng Chiến khu IV. Với cương vị và trọng trách được giao phó, đồng chí đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của mình, đặc biệt là việc tìm hiểu sâu sát thực tế kháng chiến, kiến quốc của quân dân khu IV. Thực hiện Chỉ thị toàn quốc kháng chiến của Trung ương Đảng và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đêm 19/12/1946, đồng chí Hồ Tùng Mậu phối hợp chỉ đạo Trung đoàn 57 Lê Nam Thắng và Trung đoàn Lê Văn Xứng chỉ huy đơn vị tiêu diệt quân Pháp ở sân bay Vinh(3). Trước sức mạnh áp đảo của ta, 0 giờ 30 phút ngày 20/12/1946, trung đội quân Pháp đã đầu hàng vô điều kiện. Đây là chiến công xuất sắc của quân và dân Nghệ An, trong đó có đóng góp không nhỏ của đồng chí Hồ Tùng Mậu.Ngày 1/10/1947, khi Chính phủ ra Sắc lệnh số 91/SL hợp nhất Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính thành Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính, đồng chí Hồ Tùng Mậu tiếp tục được Trung ương cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính khu IV. Để tập trung cho cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã cùng với Bộ chỉ huy Khu IV tập trung phát triển lực lượng vũ trang, huấn luyện quân sự, chính trị. Với sự lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả của đồng chí nói riêng và Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính nói chung đã khơi dậy tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh của nhân dân khu IV, góp phần vào củng cố xây dựng chiến khu vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu khi chiến tranh xảy ra.Suốt những năm tháng giữ chức Chính ủy và Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến trong Liên khu IV, đồng chí Hồ Tùng Mậu làm việc quên mình với tác phong chan hòa, bình dị và khảng khái. Những cống hiến của đồng chí trong quá trình làm việc tại Liên khu IV đã góp phần thiết lập và củng cố cơ sở, lực lượng cách mạng khu vực các tỉnh Trung Bộ trong thời điểm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, gặp nhiều khó khăn thử thách. Nhờ vậy, đồng chí đã tạo được uy tín lớn trong nhân dân và đội ngũ cán bộ, được mọi người gọi một cách kính cẩn và yêu mến là “cụ Mậu”.

