Những dòng thư ở lại
Sau khi xem nội dung hơn 160 lá thư của hai vợ chồng liệt sĩ Đặng Hữu Khánh hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Phòng không-Không quân, chúng tôi vội tìm tới gia đình họ. Đón chúng tôi trong căn nhà bình dị tại phường Thanh Liệt (quận Hoàng Mai, Hà Nội), ông Bùi Đăng Đức kể với chúng tôi về thân phận người con gái bệnh tật đang nằm trên chiếc giường gần đó...
Sau khi xem nội dung hơn 160 lá thư của hai vợ chồng liệt sĩ Đặng Hữu Khánh hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Phòng không-Không quân, chúng tôi vội tìm tới gia đình họ. Đón chúng tôi trong căn nhà bình dị tại phường Thanh Liệt (quận Hoàng Mai, Hà Nội), ông Bùi Đăng Đức kể với chúng tôi về thân phận người con gái bệnh tật đang nằm trên chiếc giường gần đó: “Tôi là em ruột của chị Bùi Thị Thìn, vợ liệt sĩ Đặng Hữu Khánh. Anh ấy hy sinh tháng 9-1972, chị Thìn cũng đã mất 6 năm nay. Anh chị tôi ra đi, để lại đứa con duy nhất bị tật nguyền Đặng Thị Thu Hà. Năm nay Hà 47 tuổi nhưng vẫn chỉ như một đứa trẻ, chẳng biết gì về cuộc sống của bố mẹ”.
Vì thương đứa con côi cút bệnh tật và do không quên được mối tình sâu nặng với người chồng liệt sĩ nên sau khi chồng hy sinh, bà Thìn đã quyết định ở vậy thờ chồng, nuôi con cho tới khi nhắm mắt xuôi tay. Mồ côi cha mẹ, chị Đặng Thị Thu Hà - người con gái có số phận không may hằng ngày vẫn phải nhờ bàn tay chăm sóc của người cậu ruột.
Từ thông tin ít ỏi được lưu ở Bảo tàng và qua chắp nối lời kể của vợ chồng ông Bùi Đăng Đức, chúng tôi được biết liệt sĩ Đặng Hữu Khánh quê ở Thanh Trì (Hà Nội) và mồ côi mẹ từ nhỏ. Khánh, Thìn là người cùng xã nên sớm quen biết nhau. Lớn lên, ông nhập ngũ vào một đơn vị cao xạ, sau đó tái ngũ, đầu quân vào bộ đội tên lửa. Khi ấy, Thìn là diễn viên của Đoàn văn công Quân khu 3. Họ xây dựng gia đình với nhau, nhưng vì đất nước chiến tranh nên cả hai vẫn phải sống những chuỗi ngày xa cách. Khi cô con gái Thu Hà mới được 7 tháng tuổi, hai vợ chồng đã phải nhờ ông bà ngoại chăm sóc, bởi Đặng Hữu Khánh vẫn bám trận địa, còn Thìn phải theo đoàn đi lưu diễn.
|
Những lá thư của vợ chồng liệt sĩ Đặng Hữu Khánh. |
Lật giở những lá thư của hai vợ chồng, thấy tình yêu họ dành cho nhau thật đằm thắm, da diết qua từng câu chữ. Đặng Hữu Khánh rất chăm viết thư, nét chữ của ông chân phương và đều tăm tắp. Trong một bức thư gửi vợ, Đặng Hữu Khánh bảo rằng: “So với hồi còn ở cao xạ giờ mới thấy lính tên lửa đúng là thường “nay đây mai đó” thật. Một thời gian, rồi chỉ độ dăm bữa nửa tháng lại cùng với tiếng xe xích sắt đi theo những nẻo đường lạ, đường quen cho tới ngày đất nước được độc lập tự do. Và thế là mỗi bước đi anh lại hiểu thêm nghĩa lý của cuộc chiến đấu này, mỗi bước đi lại càng thương nhớ em da diết…” (thư ngày 5-12-1968).
Mong ước và hy vọng được bên nhau, nhưng cuộc chiến đấu đã cuốn họ đi, để rồi vào những ngày phép ít ỏi, bà Thìn thường phải tìm chồng khá vất vả ở tất cả các trận địa. Chín năm kể từ ngày ngỏ lời yêu thương rồi nên vợ nên chồng, họ chỉ thường xuyên gặp nhau trên những trang thư khét mùi thuốc súng. 168 lá thư mà bà Thìn nâng niu, gìn giữ trong nhiều năm trời đã chứa đựng bao nhớ thương, day dứt, bao nỗi giày vò về cuộc sống chung riêng. Ở đó chứa chan tình vợ chồng, gắn bó tình đồng đội và cả trách nhiệm lớn lao đối với đứa con bệnh tật. Trong một bức thư gửi vợ, Đặng Hữu Khánh đã viết: “Nghĩ đến nét mặt em buồn vì chưa tìm được niềm vui trọn vẹn của một người làm vợ, làm mẹ, niềm vui từ đứa trẻ bé bỏng ngây thơ và nghịch ngợm, rồi lại chợt nghĩ đến con gái Thu Hà khốn khổ và tuyệt vọng của chúng ta…” (thư ngày 21-6-1969).
|
Bà Bùi Thị Thìn, vợ liệt sĩ Đặng Hữu Khánh. |
Trong một lần theo đoàn lưu diễn ở Phú Thọ, người vợ Bùi Thị Thìn đã hồi âm tới chồng bằng những dòng thư: “Anh thân yêu! Nhận được tin anh lại trở về trận địa chiến đấu với giặc Mỹ, em cũng rất vui khi anh được nhận một vị trí chiến đấu mới, chứng tỏ Đảng rất tin anh, đó là điều em rất mừng. Em chỉ mong sao anh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhưng em cũng rất mong anh làm sao giữ trọn cả chung riêng để em luôn tự hào về anh…” (thư ngày 21-8-1972).
Trong hoàn cảnh đất nước bom đạn và chiến tranh ác liệt, Đặng Hữu Khánh vẫn không nguôi nhớ vợ. Những cánh thư nối tiếp nhau, góp phần tô đẹp tình yêu thắm thiết giữa hai người: “Ta lại tạm xa nhau rồi đấy nhỉ? Có những sợi dây trong tình cảm chỉ lúc xa nhau mới lại rung lên thanh âm khi man mác, khi réo sôi mà cứ sâu lắng xuyên xoáy thấm mãi nơi tâm can mình một cách rất đặc biệt. Nơi đây anh tự biết mình suy nghĩ và ước ao khát vọng thế nào, nơi em hẳn cũng là như thế. Anh lại gặp những giây phút kỷ niệm đã qua của mối tình giữa hai chúng ta và vẫn cảm thấy bồi hồi xúc động khi nghĩ về em…” (thư ngày 5-8-1972)
|
Di ảnh liệt sĩ Đặng Hữu Khánh. |
Sau một trận đánh ác liệt, chàng lính trẻ Đặng Hữu Khánh đã viết thư gửi về tâm sự với vợ: “Khánh mà Thìn bảo rằng vẫn hằng nhớ mong, yêu thương và hy vọng đang tồn tại, đang cùng đồng đội trực tiếp tham gia chiến đấu trong điều kiện khẩn trương quyết liệt. Anh vốn gầy, bây giờ rất gầy nhưng chưa ốm và không thể ốm được. Trong hoàn cảnh bận rộn, tình hình chiến đấu ác liệt nhưng anh vẫn nghĩ, vẫn nhớ thương em và không bao giờ nguôi khao khát được gặp em. Anh hy vọng và tin tưởng mãnh liệt đến những ngày không xa nữa, chúng ta sẽ được gặp nhau, có điều kiện sống bên nhau khi Tổ quốc chiến thắng hoàn toàn” (thư ngày 30-8-1972).
Bước sang năm 1972, giặc Mỹ điên cuồng bắn phá miền Bắc. Họ vẫn động viên nhau lạc quan tin vào một ngày đất nước toàn thắng: “Trong hoàn cảnh công việc bận rộn, tình hình chiến đấu khẩn trương, ác liệt, nhưng anh vẫn nghĩ, vẫn nhớ, vẫn thương yêu không bao giờ nguôi và khao khát được gặp em. Anh ước ao hy vọng và tin tưởng mãnh liệt đến những ngày không xa nữa chúng ta sẽ được gặp nhau, có điều kiện sống bên nhau khi Tổ quốc ta chiến thắng hoàn toàn… Không thể nhớ được từ buổi chia tay gần nhất đến nay, đã bao lần anh ước ao em đến gần anh, chăm sóc anh từ mũi chỉ khâu trên tấm áo sờn, từ bàn tay vuốt mái tóc bù khi anh nằm ngủ cho đến hơi ấm của đôi cánh tay em vòng ôm người anh…”.
Lá thư trên được Đặng Hữu Khánh viết vào chiều 31-8-1972, nghĩa là 10 ngày sau, trong một trận đánh, Trung úy Đặng Hữu Khánh đã anh dũng hy sinh khi đang cùng đồng đội chiến đấu tại trận địa Thanh Trì, Hà Nội.
Còn lại một mình với đứa con bệnh tật, 168 lá thư của hai vợ chồng đã trở thành điểm tựa tinh thần giúp người vợ liệt sĩ vượt qua nỗi đau mất mát để tiếp tục sống, tiếp tục cống hiến. Người vợ thủy chung ấy vừa chăm sóc đứa con bệnh tật, vừa tiếp tục công tác cho đến ngày nghỉ hưu với quân hàm đại úy. Trở về đời thường, bà vẫn tích cực tham gia công tác đoàn thể. Trong đội văn nghệ xung kích của phường Thanh Liệt, tiếng hát của người vợ liệt sĩ hơn 30 năm thờ chồng, nuôi con ấy đã làm xúc động bao người...






