NHỮNG TRẬN ĐÁNH HAY CỦA PHÁO BINH TRONG ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975
NHỮNG TRẬN ĐÁNH HAY CỦA PHÁO BINH TRONG ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975
Nhân kỷ niệm ngày toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhìn lại những hoạt động chiến đấu, xây dựng của bộ đội pháo binh thực sự là một kỳ tích, một trang sử vẻ vang về truyền thống pháo binh nhân dân Việt Nam. Nhân dịp này cũng xin được nói thêm về một vài suy nghĩ trong công tác chuẩn bị lực lượng mang tính chiến lược của Binh chủng Pháo binh cho "Đại thắng mùa Xuân 1975" và một số trận đánh hay của pháo binh qua những ngày tháng lịch sử ấy.
Từ sau chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và chiến thắng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972, vai trò hỏa lực pháo binh trong tác chiến hiệp đồng quy mô lớn đã được xác định là "Hỏa lực chủ yếu". Nói đến vai trò hỏa lực chủ yếu, ngoài hỏa lực pháo mang vác phải kể đến vị trí của pháo binh xe kéo nhất là pháo xe kéo có tầm bắn xa uy lực đạn lớn; cũng có thể nói: "Quy mô tác chiến hiệp đồng binh chủng ngày càng lớn thì yêu cầu và quy mô sử dụng pháo binh sẽ tăng lên, ngược lại số lượng pháo binh tham gia chiến dịch ngày càng nhiều, cỡ nòng pháo lớn hơn thì chất lượng chiến dịch nhất định cũng cao hơn". Với quan điểm ấy, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, ngay từ những tháng đầu năm 1973 bộ đội pháo binh một mặt luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đánh bại mọi âm mưu lấn chiếm của địch, đồng thời cũng phải ra sức chuẩn bị xây dựng mọi mặt về tổ chức lực lượng, trang bị lại cho các đơn vị Pháo binh ở cả hai miền theo hướng kiện toàn, khôi phục và mở rộng các trung - lữ đoàn pháo binh xe kéo, gấp rút điều chỉnh bổ sung xe pháo khí tài đạn cho các đơn vị pháo binh ở các chiến trường miền Nam nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới là chuẩn bị đánh lớn để thắng lớn.
Các quân đoàn dự bị chiến lược của Bộ được trang bị tương đối hiện đại, có đầy đủ các binh chủng kỹ thuật bảo đảm, có sức đột kích lớn, có hỏa lực mạnh, có khả năng cơ động cao, sẵn sàng độc lập hoàn thành những nhiệm vụ tác chiến trên từng hướng chiến lược lần lượt được hình thành:
- Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Quân đoàn 1 được thành lập với tên gọi Binh đoàn Quyết thắng có Lữ đoàn Pháo binh 45 - một đơn vị pháo binh anh hùng có độ dày truyền thống chiến đấu từ chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954; các sư đoàn 308, 312, 320B đều có trung đoàn pháo xe kéo mang phiên hiệu 54, 58 và 186, mỗi trung đoàn đều trang bị hai tiểu đoàn lựu pháo 122 ly và một tiểu đoàn pháo nòng dài 85 ly.
- Ngày 17 tháng 5 năm 1974, Quân đoàn 2 được thành lập với tên gọi Binh đoàn Hương Giang có Lữ đoàn pháo binh 164 một đơn vị có nhiều thành tích chiến đấu trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ gồm bốn tiểu đoàn pháo 130 ly và Đ74; các sư đoàn 304, 324, 325 đều có trung đoàn pháo xe kéo 68, 84, 178 được biên chế đủ mỗi trung đoàn ba tiểu đoàn pháo xe kéo.
- Ngày 20 tháng 7 năm 1974, Quân đoàn 4 được thành lập với tên gọi Binh đoàn Cửu Long có Lữ đoàn pháo binh xe kéo 24, một đơn vị chủ lực của Bộ chỉ huy Miền đã dày dạn chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam Bộ biên chế bốn tiểu đoàn pháo xe kéo cỡ lớn còn ở ba sư đoàn của quân đoàn cũng khôi phục ba trung đoàn pháo xe kéo mang phiên hiệu 42, 28 và 210.
- Mặt trận Tây Nguyên vốn là "B3" đảm nhiệm một địa bàn chiến lược của chiến trường Việt Nam được tổ chức hai trung đoàn pháo 675 và 40 trang bị pháo lớn có tầm bắn xa; ở ba sư đoàn 320A, 316 và 10 cũng đều khôi phục xây dựng trung đoàn pháo xe kéo, nhưng có trung đoàn mới biên chế hai tiểu đoàn.
- Ở các quân khu miền Nam cũng xây dựng thành các trung đoàn pháo xe kéo như Quân khu Trị - Thiên có Trung đoàn 16 trang bị hỗn hợp pháo 130, 152, 100 và 85 ly; Quân khu 5 có hai trung đoàn 572 và 576; tại Mặt trận B2 kiện toàn Đoàn Pháo binh 75 cả về tổ chức và trang bị; Quân khu 9 xây dựng Trung đoàn 6 pháo binh có cả pháo xe kéo và pháo mang vác. Các sư đoàn bộ binh độc lập thuộc Quân khu 5, miền Đông Nam Bộ cũng xây dựng trung đoàn pháo trang bị hỗn hợp cả pháo xe kéo và pháo mang vác v.v...
Đây là bước nhảy vọt về chất trong tổ chức phát triển lực lượng của Binh chủng Pháo binh, chỉ trong thời gian chưa đầy hai năm 1973 - 1974, chúng ta đã xây dựng xong sáu lữ đoàn và 26 trung đoàn pháo xe kéo có thể sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu từ tháng 12 năm 1974.


