Niềm tin ánh sáng
Qua giới thiệu của người bạn, chúng tôi tìm về xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) thăm một con người khá đặc biệt-cựu chiến binh Phạm Minh Khoa, trong cái nắng như đổ lửa xuống dải đất miền Trung.
Trở về với nhiều vết thương
Phạm Minh Khoa sinh năm 1957. Chưa đầy mười tám tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, anh lên đường nhập ngũ và trở thành người lính đặc công thuộc biên chế Đại đội 3, Tiểu đoàn 42, Trung đoàn 60, Sư đoàn 305 (Bộ tư lệnh Đặc công), chạm chân tới cửa ngõ Sài Gòn trước giờ toàn thắng.
Ở lại thực hiện nghĩa vụ của một chiến sĩ trên cương vị kiểm soát quân sự, bảo đảm trật tự trị an sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước một thời gian, anh lại được điều động về Trung đoàn Đặc công 429 thuộc Quân khu 7. Bình minh một ngày đầu mùa thu năm 1977, chiến sĩ Phạm Minh Khoa được lệnh lên đường tham gia chiến đấu chống quân Pôn Pốt. Từ Tây Ninh, cuộc hành quân bộ bí mật xuyên rừng sang đất bạn. Cuộc đời người lính đặc công cuốn theo anh luồn sâu vào đất nước Chùa Tháp và đối mặt với những trận chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh.
Nhìn đôi mắt mờ đục và những vết thương trên cơ thể đã lành sẹo, chúng tôi cảm nhận được nỗi đau thân thể anh đang mang. Nhưng với bản chất người lính Cụ Hồ, anh cười xòa, cho biết: “Mình dù bị thương tật, mất đi đôi mắt nhưng còn may mắn hơn nhiều đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại đất bạn Campuchia”.
Thương binh Phạm Minh Khoa (trái) cùng đồng đội trong một lần gặp mặt truyền thống. Ảnh do nhân vật cung cấp. Chúng tôi bị cuốn theo lời anh kể: “Nhận lệnh tiến công trận địa địch ở Phum Mông, quận lỵ Mi Mốt, thuộc tỉnh Kông Pông Chàm, toàn phân đội bí mật cơ động tiếp cận triển khai đội hình chiến đấu. 4 giờ 45 phút ngày 6-4-1978, ta được lệnh nổ súng. Trên cương vị tiểu đội trưởng, nhận chỉ thị cấp trên đảm nhiệm vị trí tiềm nhập vào hệ thống công sự bao quanh một phum nhỏ bị địch chiếm giữ làm căn cứ, tôi cùng đồng đội lần dò gỡ mìn, tiếp cận mục tiêu và nổ súng chiến đấu. Bị tấn công bất ngờ, lúc đầu địch rối loạn đội hình; rồi chúng chia từng tốp nhỏ lẩn nhanh vào rừng. Đến vị trí có lợi, chúng dừng lại tổ chức phản công quyết liệt. Ta liên tiếp bẻ gãy từng đợt chống trả của địch. Nhưng khi tôi vừa tiến vào vị trí có lợi sát cây xoài lớn ta trinh sát trước đó, bất ngờ mìn nổ. Phát hiện được hướng tiến công của ta, địch nã cối liên hồi vào vị trí có tiếng mìn. Tôi vừa trúng mảnh, vừa bị một phát đạn cối bắn găm ngay trước mặt. Tôi chỉ kịp kêu lên một tiếng đau đớn rồi lịm đi ngay bên đồng chí tiểu đội phó. Mảnh đạn cối văng lên, hai miếng liên tiếp vỗ vào giữa mặt, vỡ đôi sống mũi, gãy xương hốc mắt, cơ thể chi chít vết thương”.
Phạm Minh Khoa được chuyển về Quân khu 4 điều trị. Thời gian điều trị trong vòng hơn ba năm. Sau 5 lần mổ, anh được thay một mắt giả. Con mắt còn lại cũng dần hồi phục hơn 20%. “Như thế cũng là quá may mắn cho tôi. Tôi vô cùng biết ơn các y sĩ, bác sĩ đã hết lòng vì thương binh, bệnh binh, trao lại cho tôi một con mắt để nhìn thấy đường đi, nhìn thấy cuộc đời dù chỉ được khoảng 20% ánh sáng. Chính 20% đó đã tạo cho tôi niềm tin, cho tôi những ước mơ, khao khát đời người”-anh chia sẻ.
Bén duyên nhạc, bén duyên đời
Năm 1983, Phạm Minh Khoa trở về nơi sinh ra-làng Châu Trinh, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh). “Thật lòng, khi trở về quê hương với ruộng đồng, mẹ cha vất vả trong khi bản thân mình tàn phế, tôi đã nghĩ tiêu cực rất nhiều vì vết thương liên tục tái phát và mắt có dấu hiệu mờ dần”. Trong những lúc buồn thẳm, anh tìm đến cây đàn ghi ta, bập bùng với những bài hát về quê hương và đồng đội. Kỳ diệu thay, âm nhạc đã bén duyên lúc nào không hay. Anh quyết định học âm nhạc, càng học càng say và trở thành nhạc sĩ nghiệp dư ở địa phương, tham gia ngày càng nhiều hoạt động xã hội. Những chương trình giao lưu văn nghệ xóm, thôn có sự góp công sức của anh được đông đảo bà con mến mộ, nhiệt tình hưởng ứng. Tiếp tục mò mẫm từng con chữ, từng nốt nhạc mặc dù đôi mắt không lành lặn, anh bắt đầu sáng tác những bài hát về quê hương, về tình đồng chí, đồng đội...
Cũng từ đây, may mắn đã mỉm cười khi một cô gái cùng làng thương cảm, chia sẻ, chăm sóc và lấy anh làm chồng. Cuộc sống nghèo khó, bệnh tật, họ đến với nhau bằng một đám cưới nhỏ, đơn sơ mà ấm cúng. Anh chị có với nhau ba đứa con ngoan, giờ đây đã dựng vợ gả chồng. Nhưng cũng tiếc là họ không thể đi hết cuộc đời với nhau và anh phải bước thêm bước nữa.
Đứng dậy từ bệnh tật, vươn lên từ nghèo khó, từ sáng tác đầu tay “Trên sông Cầu nghe câu hát giận thương”, trong hơn chục năm sáng tác, phổ nhạc, Phạm Minh Khoa đã có hàng trăm ca khúc và hàng trăm tiểu phẩm, tổ khúc chủ yếu ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương và tri ân đồng đội mang âm hưởng dân ca xứ Nghệ được sử dụng rộng rãi trong tỉnh nhà. Những tác phẩm tiêu biểu đoạt huy chương vàng, đoạt giải A, giải đặc biệt, phần thưởng của các cấp huyện, tỉnh và Trung ương như: “Tình anh về dòng sông La” (1987); “Khúc xuân sông La” (2011); kịch dân ca Nghệ Tĩnh “Chuyện làng” (2000); “Cánh sóng nghĩa tình” (2002); “Nghiệp sáng nghề lành” (2006); hoạt ca dân ca Nghệ Tĩnh “Nghĩa tình vườn quê”, “Tìm về lời hát” (2014); “Duyên quê Đức Thanh” (2015); “Bóng đổ chiều quê” (2017)…
Đặc biệt, năm 2004, Phạm Minh Khoa đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội Người mù của huyện Đức Thọ. Thấu hiểu nỗi đau của người khiếm thị, anh đã nhanh chóng tập hợp, tạo cho họ niềm tin vào cuộc sống ân tình thông qua các tác phẩm của mình; chủ động gặp gỡ, xin ý kiến lãnh đạo huyện tạo điều kiện, kinh phí hỗ trợ dạy nghề cho người khiếm thị, giúp họ có công ăn việc làm ổn định... Nhưng đáng tiếc, niềm đam mê với công tác của hội chưa được bao lâu thì anh không may bị tai nạn, phải điều trị lâu dài.
Đến nay, dù không làm công tác xã hội nữa, nhưng cựu chiến binh Phạm Minh Khoa vẫn đam mê sáng tác và phổ nhạc với mong muốn đem lại niềm tin ánh sáng, thắp lửa cho cuộc sống chưa khi nào vơi cạn.



