NƠI SẮT THÉP CHẢY TAN, LÒNG NGƯỜI Ở LẠI
"Có một tuyến đường 1C huyền thoại được ví như nơi 'sắt thép cũng phải chảy tan', và có một người con gái tuổi mười tám đã gửi lại thanh xuân ở đó – đó chính là bà Nội tôi. Ký ức về những đêm tải đạn lội nước thấu xương, những bữa cơm chỉ có cọng rau muống già. Một câu chuyện thời hoa lửa đầy tự hào mà thế hệ con cháu hôm nay mãi mãi khắc ghi."
NƠI SẮT THÉP CHẢY TAN, LÒNG NGƯỜI Ở LẠI
Trong căn nhà nhỏ ở miền nông thôn, mỗi lần nhìn bà Nội – bà Nguyễn Thị Nga – ngồi lặng lẽ bên tách trà, tôi lại thấy ánh lên trong đôi mắt đã mờ đục theo thời gian một khoảng trời rực lửa. Tuổi thơ của tôi lớn lên không phải bằng những câu chuyện cổ tích về hoàng tử hay công chúa, mà bằng những mẩu chuyện chắp vá về một thời oanh liệt trên tuyến đường tải đạn chiến lược 1C huyền thoại.
Bà tôi tham gia lực lượng thanh niên xung phong khi mới mười tám, đôi mươi – cái tuổi đẹp nhất của người con gái. Ngày đó, đường Hồ Chí Minh trên biển bị địch điên cuồng phong tỏa, để đưa được vũ khí từ miền Đông Nam Bộ về tận mũi Cà Mau, một con đường máu và nước mắt đã được mở ra. Tuyến đường 1C chạy dọc biên giới, băng qua rừng tràm Hà Tiên, vượt kinh Vĩnh Tế, kinh 8.000... ngày đêm oằn mình dưới bom cày đạn xới [00:28]. Lực lượng đi ngày ấy đa số là những cô gái miền Tây chân lấm tay bùn nhưng kiên cường đến lạ.
Bà kể, hồi đó cực lắm, cuộc sống cứ nửa nắng nửa nước. Có những mùa khô, nước cạn không chống xuồng được, các cô gái nhỏ nhắn phải ghé vai vác những thùng đạn nặng trĩu, đi ròng rã suốt đêm thâu. Vai sưng rộp, chân rớm máu nhưng không một ai dám buông tay, vì biết ngoài chiến trường, đồng đội đang chờ từng viên đạn, từng khẩu súng.
Gian khổ nhất là những ngày bị địch bao vây, cắt đứt tiếp tế. Không có cơm gạo, cả đội phải đi hái rau muống dại để ăn cầm hơi. Bà cười móm mém nhớ lại: “Mấy tốp đi trước thì còn được ăn đọt non, tốp đi sau như tụi bà chỉ còn lá già với cọng cứng, vậy mà nuốt ngon lành để lấy sức mà đi”. Đi đêm, lội nước, giao hàng xong xuôi thì trời cũng vừa hửng sáng. Tiêu chuẩn mỗi người chỉ có một chiếc khăn rằn. Đêm xuống, người ướt đầm đìa vì nước kinh, nước sương, bà lấy chiếc khăn rằn xếp lại đắp lên mắt, úp cái nón lá lên mặt rồi cứ thế nằm ngay dưới mạn xuồng mà ngủ. Cái lạnh thấu xương, cái ghẻ lở, nước ăn chân tay hành hạ da thịt con gái đến tứa máu, nhưng tuyệt nhiên không một lời than vãn.
Sự khốc liệt của đường 1C ngày ấy được ví như nơi mà “sắt thép cũng phải chảy tan”, nhưng ý chí của những cô gái thanh niên xung phong như bà tôi thì không gì bẻ gãy được. Lịch sử gọi các bà là huyền thoại, nhưng với bà, tất cả những hy sinh đó chỉ gói gọn trong một ước vọng rất đỗi bình dị: quyết tâm đánh đuổi giặc Mỹ để đồng bào mình không còn đói khổ, để người dân có cơm ăn áo mặc. Với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, bà tôi đã có mặt trong những tháng ngày rực lửa ấy, đi liên tục không nghỉ, có tháng đi ròng rã cả 29, 30 đêm.
Chiến tranh lùi xa, hơn 2.000 ngày đêm bám trụ ấy đã cướp đi xương máu của biết bao đồng đội. Gần 400 thanh niên xung phong mãi mãi nằm lại với đất mẹ miền Tây. Bà tôi là một trong số ít những người may mắn được trở về, được sống để nhìn thấy ngày đất nước trọn niềm vui.
Giờ đây, khi nghe tin đền thờ anh hùng liệt sĩ và thanh niên xung phong hy sinh trên tuyến đường 1C được xây dựng khang trang tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang, mắt bà tôi lại rưng rưng. Bà bảo, không có gì vui và an lòng hơn khi các anh, các chị – những người ngã xuống khi tuổi đời còn phơi phới – đã có một ngôi nhà chung ấm cúng để hậu thế đời đời ghi nhớ công ơn.
Thế hệ chúng tôi hôm nay, được sống trong hòa bình, tự do, càng nghe chuyện của bà lại càng thấy trân quý giá trị của độc lập. Người con gái thanh niên xung phong Nguyễn Thị Nga của năm mươi năm trước và người bà hiền hậu của tôi hôm nay, mãi mãi là niềm tự hào lớn lao, là ngọn lửa sưởi ấm và soi đường cho con cháu bước tiếp./.



