NỮ CHIẾN BINH TRƯỜNG SƠN
Trần Thị Hạnh, sinh năm 1952, quê quán xã Mỹ Thọ, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Năm nay đã 74 tuổi, cơ thể còn để lại di chứng chiến tranh – tôi là thương binh hạng 2/4, vai trái bị thương nặng, cử động hạn chế, nhưng ký ức về những năm tháng kháng chiến vẫn sống động như mới hôm qua.
Trần Thị Hạnh, sinh năm 1952, quê quán xã Mỹ Thọ, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Năm nay đã 74 tuổi, cơ thể còn để lại di chứng chiến tranh – tôi là thương binh hạng 2/4, vai trái bị thương nặng, cử động hạn chế, nhưng ký ức về những năm tháng kháng chiến vẫn sống động như mới hôm qua.
Năm 1970, khi vừa tròn 18 tuổi, tôi viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Ngày tiễn tôi lên đường, mẹ tôi nắm chặt tay tôi, giọng run run nhưng vẫn cố cứng cỏi:
"Con đi giữ nước, nhớ giữ gìn sức khỏe và đồng đội."
Sau hơn ba tháng huấn luyện tại Trường Quân sự tỉnh Bắc Giang, tôi được biên chế vào Đoàn Thanh niên xung phong, làm nhiệm vụ hậu cần và y tế chiến trường. Những ngày tháng ấy, chúng tôi sống trong rừng sâu, nấu cơm bằng củi, nước uống suối, đêm ngủ võng dưới mưa bom, ngày tránh pháo kích, nhưng tinh thần vẫn luôn kiên cường.
Trong đơn vị, tôi thân nhất với chị Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1950, quê xã An Hòa, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Chị Lan là y tá trưởng, luôn đi cùng tôi trên các tuyến đường tiếp tế, cứu thương. Trong một trận đánh ác liệt tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị năm 1972, tôi bị mảnh pháo găm vào vai trái, còn chị Lan bị thương nhẹ. Vết thương khiến tôi trở thành thương binh hạng 2/4, nhưng may mắn sống sót, còn nhiều đồng đội khác ngã xuống.
Năm 1973, dù chưa hoàn toàn hồi phục, tôi vẫn trở lại phục vụ tại chiến trường Tây Nguyên, chủ yếu ở huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, tiếp tục công tác cứu thương, hỗ trợ bộ đội. Ở đó, tôi quen anh Lê Minh Quân, sinh năm 1948, quê xã Phú Mỹ, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định – một đồng đội luôn tận tình giúp đỡ các thương binh.
Sau ngày 30/4/1975, đất nước thống nhất, tôi được xuất ngũ năm 1976, trở về quê Lạng Sơn với vai trái còn di chứng. Cuộc sống ban đầu khó khăn, nhưng được nhìn thấy con cháu lớn lên trong hòa bình, tôi thấy mọi hy sinh đều xứng đáng.
Giờ đây, mỗi khi kể lại, tôi chỉ mong các thế hệ trẻ hiểu rằng:
hòa bình hôm nay được đổi bằng tuổi trẻ, máu và cả thân thể của những người lính, cả nam lẫn nữ, trên khắp mọi miền đất nước.



