Cựu Thanh niên xung phong

ÔNG HOÀNG VĂN BÌNH

Ông Hoàng Văn Bình, sinh năm 1948, quê ở thôn Tân Linh, xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng (nay là xã Kiến Minh). Ông kể trong xúc động: “Năm ấy, tôi vừa tròn đôi mười – cái tuổi đẹp nhất của đời người. Khi Tổ quốc gọi tên, tôi không chút do dự, khoác ba lô lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của non sông. Tôi vẫn nhớ như in buổi sáng tiễn quân ngày ấy, mẹ tôi lặng lẽ đứng ở đầu ngõ, đôi mắt dưng dưng lệ, còn tôi nén lại tất cả để bước đi mà không dám ngoái đầu nhìn lại. Chúng t

Hải Phòng02/04/2026Phạm Tuấn Phương (Đoàn xã Kiến Minh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

ÔNG HOÀNG VĂN BÌNH

Ông Hoàng Văn Bình, sinh năm 1948, quê ở thôn Tân Linh, xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng (nay là xã Kiến Minh). Ông kể trong xúc động: “Năm ấy, tôi vừa tròn đôi mười – cái tuổi đẹp nhất của đời người. Khi Tổ quốc gọi tên, tôi không chút do dự, khoác ba lô lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của non sông. Tôi vẫn nhớ như in buổi sáng tiễn quân ngày ấy, mẹ tôi lặng lẽ đứng ở đầu ngõ, đôi mắt dưng dưng lệ, còn tôi nén lại tất cả để bước đi mà không dám ngoái đầu nhìn lại. Chúng tôi lên tàu từ ga Hải Phòng vào Ninh Bình phải chuyển quân xuống điểm tập kết rồi chuyển sang ô tô vào Quảng Bình, xe chỉ dám chạy vào ban đêm, ngày đó tôi nhớ cứ 30 cây số lại phải đổi xe một lần vừa để giữ bí mật và để tránh máy bay địch phát hiện. Khi đến Quảng Bình, cả Tiểu đoàn phải xuống hành quân bộ theo đường mòn Hồ Chí Minh. Tôi thuộc sư đoàn 35, tiểu đoàn 95, trung đoàn bộ binh. Chưa kịp nhớ hết tên đồng đội thì nhiều người đã hy sinh trên đường. Cuộc hành quân gian khổ ấy chính là bước khởi đầu cho những năm tháng chiến đấu và hy sinh oanh liệt của đời lính chúng tôi.

Khi được điều vào thành cổ Quảng Trị, tôi mới thấm thía thế nào là khốc liệt. Tám mươi mốt ngày đêm bom đạn trút xuống, đất trời rung chuyển, khói lửa mịt mù. Khi vượt sông Thạch Hãn để vào “chảo lửa”, tôi thấy bao đồng đội ngã xuống giữa dòng nước đỏ phù sa. Người đi bên cạnh tôi – đồng chí Tâm, trạc tuổi tôi khoảng Mười tám đôi mươi, quê Thái Bình – bị trúng đạn ngay trước mắt. Tôi cố gắng kéo bạn lên bờ, nhưng không kịp. Bạn hy sinh trong vòng tay tôi. Khoảnh khắc ấy, tôi vừa run vừa nghẹn, vừa thương vừa sợ. Tôi đã may mắn sống sót, nhưng trong lòng vẫn luôn day dứt, vì biết rằng mình còn nợ những người nằm lại dưới dòng sông lạnh ngắt đó.

Thời ấy, ăn uống kham khổ, mỗi ngày chỉ có một nắm cơm nhỏ, nhưng không ai than vãn. Chúng tôi chỉ biết chiến đấu vì đồng đội, vì quê hương. Trong những ngày lửa đạn ấy, tôi có vinh dự được gặp Chủ tịch Fidel Castro, người bạn lớn của nhân dân Việt Nam. Khi ông giơ cao lá cờ và phát biểu giữa Thành cổ Quảng Trị, ánh mắt ông sáng ngời niềm tin, giọng nói ông vang lên mạnh mẽ giữa khói bom. Hình ảnh ấy khắc sâu trong tim tôi, như tiếp thêm sức mạnh cho những người lính trẻ tiến lên phía trước.

Sau chiến dịch Quảng Trị, tôi cùng đơn vị tiếp tục hành quân vào Nam, đơn vị tôi sáp nhập vào Quân đoàn 2, tiến lên Tây Nguyên tham gia chiến dịch Buôn Ma Thuột – trận đánh mở màn cho Đại thắng mùa Xuân 1975. Tôi là lính trinh sát, nhiệm vụ bí mật, di chuyển nhanh, đánh gọn. Chúng tôi chỉ mất hai ngày một đêm để chiếm trọn Buôn Ma Thuột, đánh bật quân địch tháo chạy. Khi truy kích quân tiếp viện ở Nam Khánh, trận chiến trở nên khốc liệt. Quân địch dồn toàn bộ hỏa lực pháo kích vào đội hình của chúng tôi.

Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh Thiếu tá Bảng, Trung đoàn phó, quê ở Hà Bắc, một người chỉ huy gan dạ, luôn đi đầu. Khi bom đạn nổ dữ dội, ông ấn tôi xuống sau gốc cây cao su để tránh đạn. Nhưng quả bom rơi quá gần, gốc cây bị bật tung. Tôi choáng váng, tai ù đi, chỉ thấy lóa sáng trước mắt sau đó bị mảnh đạn găm vào mặt, chỉ kịp kêu lên “Em bị thương rồi!”. Nhìn sang, thấy máu đổ đầy mặt Thiếu tá Bảng. Khi được đưa về tuyến sau, ông vẫn bình tĩnh nói với Quân y đang tiêm thuốc chữa trị cho ông rằng: “Tôi không còn sống được nữa đâu… thuốc men để dành cho người khác.” Nói rồi ông ra đi, nhẹ như một giấc ngủ..”

“Tôi được cứu sống, điều trị tại bệnh viện dã chiến một tuần, rồi trở lại đơn vị. Chúng tôi tiếp tục hành quân, và ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi được chứng kiến khoảnh khắc huy hoàng của dân tộc – miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Giây phút ấy, tôi đã khóc như một đứa trẻ. Tôi khóc vì hạnh phúc, vì tự hào, và vì nhớ đến những đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường…” lúc đấy tất cả chúng tôi cũng cảm nhận thấy rõ sự hân hoan, tự hào và thấy ánh mắt bác sáng lên như đang thực sự chứng kiến khoảnh khắc tuyệt vời ấy. Một lúc lâu sau bác mới tiếp tục tâm sự: “Giờ đây, khi mái tóc đã bạc, mỗi lần nhắc lại những năm tháng ấy, lòng tôi vẫn bồi hồi. Tôi biết mình là người may mắn khi được sống để kể lại câu chuyện của một thế hệ đã hiến trọn tuổi xuân, máu và nước mắt cho hòa bình hôm nay. Những ký ức ấy, tôi sẽ mang theo suốt cuộc đời – như một ngọn lửa không bao giờ tắt trong trái tim người lính”

Xin được cảm ơn những anh hùng, cảm ơn những thế hệ cha anh đi trước như ông Hoàng Văn Bình đã anh dũng chiến đấu, đánh đổi thanh xuân, hy sinh tất cả máu xương để chúng ta được sống trong độc lập, hòa bình, hạnh phúc như ngày hôm nay!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn