Ông Nguyễn Dụng Khiên
2. Trên tấm bia đá trong Khu Di tích lịch sử cách mạng hang Co Phương còn ghi tên, năm sinh của 11 dân công hỏa tuyến hy sinh năm ấy. Lần lượt là các liệt sĩ: Nguyễn Thị Diễu (SN 1933), Nguyễn Chi Hoằng (SN 1924), Nguyễn Thị Hội (SN 1933), Nguyễn Thị Mứt (SN 1932), Nguyễn Dụng Phước (SN 1919), Nguyễn Thị Thiêm (SN 1931), Nguyễn Chí Toàn (SN 1926), Nguyễn Thị Toản (SN 1932), Nguyễn Thị Tố (SN 1932), Nguyễn Thị Vân (SN 1935) và Nguyễn Thị Viên (SN 1932).
Tháng 4 này, tôi trở lại vùng quê Thiệu Nguyên cũ (nay là xã Thiệu Hóa) bình yên bên hữu ngạn sông Chu. Người kể chuyện năm trước đã không còn. Bà Nguyễn Thị Ngọt đã đi xa, như chính lời bà từng gọi: “Em Út Ngọt lên với các anh chị đây”.
Ông Nguyễn Dụng Khiên lần dở tài liệu về người cha của mình - liệt sĩ Nguyễn Dụng Phước hy sinh tại hang Co Phương.
Nhưng khúc tráng ca của những người dân công hỏa tuyến gửi lại thân mình trong hang Co Phương năm xưa vẫn âm ỉ chảy trong huyết quản của thân nhân, gia đình, dòng họ, trong mỗi người đang đi trong hòa bình hôm nay.
Dù tuổi cao, đã qua cái thời cảm xúc trào dâng vui buồn, nhưng thẳm sâu trong ông Nguyễn Dụng Khiên (SN 1946) ở thôn Nguyên Thịnh vẫn là những lời kể về người cha của mình - liệt sĩ Nguyễn Dụng Phước hy sinh tại hang Co Phương. Ông kể: “Khi bố hy sinh, tôi mới 7 tuổi, còn chưa cảm nhận được nỗi đau. Chỉ nhớ là mẹ khóc cả tháng trời. Càng lớn tôi càng thấm nỗi buồn mất bố. Nhưng chiến tranh mà”... Sau này lớn lên, mang theo ý chí của người cha xả thân vì Tổ quốc, ông Khiên tham gia vận tải đường sông, đường biển, chuyển lương thực thực phẩm vào miền Nam phục vụ bộ đội ta đánh Mỹ. Hòa bình, ông về tỉnh, công tác tại Xí nghiệp khảo sát thiết kế thủy lợi Thanh Hóa và nghỉ chế độ năm 1987. Chính ông cũng là người thực hiện các thủ tục đề nghị và được Nhà nước công nhận 11 dân công hỏa tuyến nằm lại trong hang Co Phương là liệt sĩ vào năm 1989. Cũng từ đó, gia đình ông và thân nhân các gia đình liệt sĩ đã làm giỗ cho 11 dân công hỏa tuyến hy sinh năm ấy vào cùng ngày 19 tháng 2 âm lịch.
Ông kể lại, đến khoảng năm 2010, Nhà nước có chủ trương cất bốc, quy tập 11 hài cốt liệt sĩ hy sinh tại hang Co Phương về đất mẹ Thiệu Nguyên. Nhưng ông và thân nhân các gia đình đã thảo luận, thống nhất để họ lại với hang Co Phương, với núi rừng, để mãi mãi là đồng đội của nhau.
Kể rồi, ông Khiên chầm chậm thắp nén hương thơm, như thêm một lần tri ân về người cha rất đỗi tự hào.
3. Gió nhẹ, thảng qua núi rừng Phú Lệ, tôi trở lại cửa hang Co Phương trong vạt nắng cuối ngày vương trên vách đá. 11 dân công hỏa tuyến năm ấy đã không về đất mẹ. Họ ở lại đó, mãi mãi tuổi 20. Và ở lại trong sự lặng im của những người đứng trước cửa hang như tôi, trong một buổi chiều tháng 4 hoa nắng...



