Ông Nguyễn Giang - nguyên cán bộ Công đoàn Nhà máy Điện Yên Phụ
Câu chuyện của ông Nguyễn Giang - nguyên cán bộ Công đoàn Nhà máy Điện Yên Phụ - người chỉ huy tổ tự vệ phá Nhà máy Điện Yên Phụ lúc 20h ngày 19/12/1946 báo hiệu Hà Nội kháng chiến, Toàn quốc kháng chiến và ông Đỗ Văn Đa - nguyên pháo thủ pháo binh Pháo Đài Láng, đơn vị bắn quả pháo đầu tiên lúc 20h ngày 19/12/1946, mở màn cho Hà Nội kháng chiến và Toàn quốc kháng chiến đã khiến tất cả những người có mặt trong buổi gặp gỡ rất đỗi xúc động, tự hào.
Nhận được mật lệnh phải nghiên cứu để phá Nhà máy Điện, cắt điện của toàn Hà Nội để làm hiệu lệnh kháng chiến, đúng 7h, Nguyễn Giang đã cùng 2 đồng chí trong tổ đóng mìn vào hộp bánh, cho axít vào vỏ chai để đánh lạc hướng là quà Tết Tây rồi thản nhiên đi qua cửa chính.
7h30' lên buồng máy. 8h kém 15, một người nhét mìn, một người đổ axít vào ruột máy. 8h, nhà máy nổ, điện thành phố tắt cũng là lúc báo hiệu cuộc kháng chiến bắt đầu.
Sau khi toàn thành phố tắt điện, theo hiệu lệnh của đồng chí Vương Thừa Vũ, Đỗ Văn Đa cùng các pháo thủ, pháo binh của Pháo Đài Láng đã bắn vào nhà chỉ huy của Pháp ở thành Cửa Đông, mở màn cho Toàn quốc kháng chiến, lập chiến công đầu tiên cho quân dân Thủ đô, đưa Hà Nội bước vào cuộc chiến đấu 60 ngày đêm bất khuất.
Trong 60 ngày đêm ấy, Mặt trận Liên khu 1, 2, 3 đã cùng nhau "chia lửa" và viết nên những thiên anh hùng ca về tinh thần chiến đấu sáng tạo, anh dũng và quả cảm của quân dân Thủ đô.
Tổ chức hoạt động du kích, khiêu khích địch đưa lực lượng ra đối phó, tổ chức tấn công địch, thực hiện kế hoạch "trong đánh ngoài vây" để Trung đoàn Thủ đô vượt sông an toàn hay hành động dũng cảm của chiến sỹ Nguyễn Phúc Lai dùng bom ba càng đánh xe tăng, Nguyễn Trung Thực dù bị thương nhưng vẫn dùng tiểu liên, lựu đạn chống đỡ địch đến giây phút cuối cùng, chiến lược cầm chân địch tiến về Ngã Tư Sở của quân dân ta trên cả 3 mặt trận Liên khu.
Những câu chuyện này đã lần lượt được các nhân chứng Nguyễn Trọng Hàm (Mặt trận Liên khu 1), Nguyễn Hiền (Mặt trận Liên khu 2), Đỗ Trình (Mặt trận Liên khu 3) tường thuật lại rất chi tiết với một niềm xúc động lạ thường. Từng mảng ký ức được chắp nối trong một dòng chảy liền mạch đã khiến cho người nghe cảm giác câu chuyện như mới xảy ra ngày hôm qua.
Những hồi ức cảm động của bà Nguyễn Kim Thanh - gia đình trí thức ở Hà Nội có 3 chị em cùng gia nhập lực lượng kháng chiến 60 ngày đêm hay những sẻ chia tâm sự của nhạc sỹ Lương Hữu Trác - một nhạc sỹ tự do đã gia nhập lực lượng kháng chiến và có nhiều tác phẩm cổ vũ phong trào chiến đấu của quân dân Thủ đô như "Mơ đời chiến sỹ", "Thủ đô huyết thệ" cũng đã thực sự làm sống lại những ngày tháng cả nước, cả Thủ đô dốc lòng cho kháng chiến, mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi gia đình là một thành lũy, chiến hào...
Câu chuyện của những nhân chứng lịch sử là người thật việc thật trong buổi gặp mặt, giao lưu "Hà Nội quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" đã giúp chúng ta lý giải vì sao từ Thủ đô, lời thề "Quyết tử " đã lan tỏa ra toàn quốc và mang một sức sống mãnh liệt, trường tồn, đi suốt cả chiều dài dân tộc từ hai cuộc kháng chiến cho đến hôm nay


