Bài viết

Phạm Thị Hồng Vân (87)

Hà Tĩnh10/05/2026chi đoàn thôn Hoàng Dụ (Hoàng Dụ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 13.7.1965, Đỗ Quốc Phong tham gia Đội thanh niên xung phong (TNXP) K53, đơn vị đặc biệt và duy nhất của Đoàn thanh niên được cử vào chiến trường miền Nam. Ông mang theo hành trang là nhiệt huyết của tuổi trẻ và tâm hồn lãng mạn của người trai Hà Nội. "Lúc đầu đi thì cũng chưa căm thù giặc sâu sắc đâu, chỉ biết yêu nước, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng thì đi thôi", ông Phong nhớ lại. Đơn vị của ông được huấn luyện tại Trường Đoàn (Cầu Giấy, Hà Nội).

Bước ngoặt thực sự khiến ý chí của ông "hóa thép" là khi đặt chân đến Hà Tĩnh. Tại đây, ông tận mắt chứng kiến cảnh máy bay đối phương ném bom vào một trường mẫu giáo. Hình ảnh những đứa trẻ vô tội ngã xuống, máu nhuộm đỏ trang sách và sân trường đã thổi bùng lên ngọn lửa căm hờn tột độ. "Tự nhiên mình nghĩ, trẻ con thế này mà nó cũng giết. Lúc ấy lòng căm thù mới thực sự trỗi dậy, biến thành quyết tâm sắt đá: phải đi, phải chiến đấu để bảo vệ đồng bào mình", ông Phong xúc động kể.

Những đêm không ngủ trên dòng Ba Lòng

Sau hành trình dài vào Đò Lèn (Thanh Hóa) rồi hành quân bộ dọc theo dải đất miền Trung, đơn vị của ông Phong đóng tại phân khu Trị Thiên-Huế. Tại đây, ông xung phong làm trinh sát và bảo vệ hành lang giao thông tại khu vực đường 9. Nhiệm vụ đặc biệt và sâu đậm nhất trong cuộc đời quân ngũ của ông chính là thời gian lái đò trên sông Ba Lòng - dòng thượng nguồn của sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị. Đây là điểm nút giao thông huyết mạch để vận chuyển quân, lương thực và đạn dược từ Bắc vào Nam và cũng là nơi bị tập trung đánh phá ác liệt nhất.Hàng đêm, hàng chục tấn hàng hóa và nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ đã vượt sông trên những chiếc đò độc mộc chỉ chở được 6 - 7 người, giữa dòng nước xiết và đáy sông đầy đá ngầm. Quân đông, hàng nhiều mà thuyền độc mộc thì bé, nên ông Phong báo cáo lãnh đạo và phối hợp với du kích địa phương tổ chức lên rừng đốn cây, làm một con đò lớn. Việc làm đò vô cùng gian nan, phải vừa dùng rìu khoét rỗng ruột rồi dùng lửa đốt để tạo hình. Mất hơn 2 tháng trời ròng rã, một con đò mới thành hình, dài chừng 8 - 10 m, đủ sức chở một trung đội khoảng 30 người.Ông Phong nhớ lại: "Học chèo đò độc mộc khó lắm. Đứng trên đó nó tròng trành, không cẩn thận là lật ngay. Chúng tôi phải học cách đứng chéo chân, tay trái dùng sào chống, tay phải dùng mái chèo quạt nước. Phải tập cả tháng trời mới dám chở quân".

Công việc bắt đầu khi màn đêm dần buông xuống, khoảng 5 giờ chiều đến 3 - 4 giờ sáng hôm sau. Dòng sông Ba Lòng về đêm là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Trên trời, máy bay trinh sát và B52 của Mỹ quần thảo liên tục. Dưới sông, dòng nước chảy xiết và đầy rẫy đá ngầm.

"Mỗi đêm chèo không biết bao nhiêu chuyến. Có những hôm chở quân vào, rồi lại chở thương binh ra. Máu và nước mắt hòa vào dòng sông lạnh buốt", ông kể. Kỹ thuật chèo đò thời chiến cũng là một nghệ thuật sinh tử. Khi máy bay đối phương thả pháo sáng, cả người và đò phải bất động, lợi dụng bóng tối và dòng chảy để ngụy trang. Chỉ cần một tiếng động mạnh, hay một ánh lửa lóe lên, bom đạn sẽ trút xuống ngay lập tức.

Sự khốc liệt của chiến trường không chỉ nằm ở bom đạn mà còn ở sự bào mòn thể xác đến cùng cực. Ông Phong kể có những đêm gồng mình chèo chống ngược dòng nước lũ, đưa bộ đội qua sông an toàn. Cường độ làm việc quá lớn, ăn uống kham khổ thiếu thốn, khiến ông và nhiều đồng đội kiệt sức.

Kỷ niệm đau thương nhất là lần chứng kiến đồng đội hy sinh ngay trước mắt. Một quả bom rơi trúng hầm trú ẩn của đơn vị, các đồng đội hy sinh tại chỗ, thi thể không còn nguyên vẹn. "Lúc ấy không còn biết sợ là gì nữa, chỉ thấy đau xót và càng thêm quyết tâm trả thù cho anh em", ông Phong nói. Trong những năm tháng khốc liệt ấy, ông cũng nhiều lần chết hụt nhưng may mắn thoát nạn do bom đạn "tránh" ông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Phạm Thị Hồng Vân (87) | Câu chuyện thời hoa lửa