Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Phan Đăng Lưu (1)

Họ và tên: Phan Đăng Lưu. Năm sinh: 1902 - Năm hy sinh: 1941. Quê quán: Yên Thành, Nghệ An. Chức vụ: Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự kiện: Mang lệnh hoãn Khởi nghĩa Nam Kỳ, bị bắt và xử bắn tại Hóc Môn. Nguồn tư liệu: Văn kiện Đảng, Lịch sử Khởi nghĩa Nam Kỳ.

Cần Thơ12/03/2026Chi đoàn trường Tiểu học Ngô Quyền (Đoàn phường Ninh Kiều)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lãnh tụ Phan Đăng Lưu.

I. THÔNG TIN NHÂN VẬT

Họ và tên: Phan Đăng Lưu.

Năm sinh: 1902 - Năm hy sinh: 1941.

Quê quán: Yên Thành, Nghệ An.

Chức vụ: Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sự kiện: Mang lệnh hoãn Khởi nghĩa Nam Kỳ, bị bắt và xử bắn tại Hóc Môn.

Nguồn tư liệu: Văn kiện Đảng, Lịch sử Khởi nghĩa Nam Kỳ.

CUỘC ĐUA VỚI TỬ THẦN VÀ PHÁP TRƯỜNG HÓC MÔN

Năm 1940, không khí khởi nghĩa sục sôi khắp các tỉnh Nam Bộ. Tuy nhiên, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7 diễn ra tại Đình Bảng (Bắc Ninh), sau khi phân tích kỹ tình hình, Trung ương Đảng nhận định thời cơ khởi nghĩa trên cả nước chưa chín muồi, nếu nổ súng ngay tại Nam Kỳ lúc này sẽ dễ bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Phan Đăng Lưu, người mang tư duy chính trị sắc sảo, đã xung phong nhận nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm: Mang lệnh của Trung ương vào Nam Bộ để hoãn cuộc khởi nghĩa.

Phan Đăng Lưu tức tốc lên tàu hỏa xuôi Nam, lòng nóng như lửa đốt, chạy đua từng giờ từng phút với tử thần. Ông biết rằng mỗi giây trôi qua, sinh mạng của hàng vạn đồng bào Nam Bộ đang treo lơ lửng. Vượt qua hàng rào mật thám dày đặc, ngày 22 tháng 11 năm 1940, ông mới đến được Sài Gòn. Nhưng hỡi ôi, lệnh khởi nghĩa đã được phát đi khắp các tỉnh từ trước đó, quần chúng đã lên đạn, mài gươm, không thể thu hồi lại được nữa. Cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra vào rạng sáng ngày 23/11/1940.

Thực dân Pháp lập tức huy động lực lượng khổng lồ đàn áp dã man. Phan Đăng Lưu bị mật thám Pháp phát hiện và bắt giữ ngay tại Sài Gòn. Biết ông là cán bộ chóp bu, bọn chúng dùng mọi nhục hình tàn ác nhất hòng moi móc thông tin về Trung ương Đảng, nhưng chúng đã vấp phải một ý chí thép. Dù thân thể bị đánh đập tàn tạ, Phan Đăng Lưu vẫn giữ phong thái của một người trí thức cộng sản kiên trung, tranh thủ mọi cơ hội để phân tích tình hình, củng cố tinh thần cho các đồng chí trong ngục.

Sáng ngày 28 tháng 8 năm 1941, Phan Đăng Lưu cùng Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai bị giải ra pháp trường Hóc Môn. Đứng trước những họng súng của quân thù, ông không hề tỏ ra sợ hãi. Ông bình thản tháo kính, cởi áo khoác, gửi lời chào tạm biệt đồng chí và quê hương. Khi tên chỉ huy hô bắn, Phan Đăng Lưu dõng dạc hô lớn: "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!". Tiếng hô át cả tiếng đạn nổ. Người con ưu tú của quê hương Xứ Nghệ đã ngã xuống trên mảnh đất Nam Bộ, dùng máu của mình hòa quyện vào tình đoàn kết Bắc - Nam ruột thịt.

III. CẢM NHẬN CỦA TÁC GIẢ

Cuộc đời hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu là một tấm gương sáng ngời về ý thức tổ chức kỷ luật và đức hy sinh. Nhiệm vụ mang lệnh hoãn khởi nghĩa vào Nam là một chuyến đi cảm tử, nhưng ông đã thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao nhất đối với Đảng và sinh mạng nhân dân.

Sự bình thản trước pháp trường của ông cho thấy cái uy vũ của những con người đã dâng trọn đời mình cho lý tưởng. Dưới mái trường mang tên người anh hùng Ngô Quyền, tôi luôn dặn dò học sinh: Hãy học tập tinh thần trách nhiệm của bác Phan Đăng Lưu. Dù nhiệm vụ có khó khăn, hiểm nguy đến đâu, khi Tổ quốc cần, chúng ta phải sẵn sàng gánh vác mà không hề tính toán thiệt hơn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn