Bài viết

Phi chiến địa

Không biết cái câu thành ngữ “Thăng Long phi chiến địa” ra đời tự bao giờ, mà ai cũng đinh ninh đó là một nét đặc sắc vĩnh cửu của Hà Nội. Hơn thế nữa, từ bấy lâu nay Thủ đô của chúng ta lại được thế giới tôn phong là “Thành phố vì Hòa bình”...

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ


Trận thắng bên sông Hồng. Ảnh: Đoàn Công Tính

Không biết cái câu thành ngữ “Thăng Long phi chiến địa” ra đời tự bao giờ, mà ai cũng đinh ninh đó là một nét đặc sắc vĩnh cửu của Hà Nội. Hơn thế nữa, từ bấy lâu nay Thủ đô của chúng ta lại được thế giới tôn phong là “Thành phố vì Hòa bình”. Và mỗi khi giới thiệu về Hà Nội, câu chuyện “trả gươm” của Vua Lê mà chứng tích vẫn hiển hiện qua bóng dáng “Cụ Rùa” khi nổi khi chìm trong bóng nước Hồ Gươm… vẫn luôn là câu chuyện mở đầu đặc sắc nhất.

Rồi ta cũng biết đến ba lần quân Nguyên - Mông đánh chiếm nước ta là 3 lần vua Trần bỏ thành Thăng Long về… quê, hội quân chờ cơ phá tan thế giặc. Đến thời Lê thì với kế sách “tâm công”, “lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo”, nghĩa quân ta vây hãm giặc Minh buộc chúng phải đầu hàng rồi vào thành Đông Quan không nhiều máu chảy đầu rơi mà lại lập “hội thề” nguyện đôi bên muôn đời hòa hiếu, rồi lại cấp thuyền, cấp ngựa, cấp lương cho quân xâm lược hồi hương… Tiếp đó, đức Lê Thái Tổ làm nên truyền thuyết “hoàn kiếm” như trên đã nhắc…

Nhưng cũng đừng quên rằng chỉ trong ngót hai trăm năm gần đây, từ cuối thế kỷ XVIII qua thế kỷ XX, Thăng Long, Hà Nội đã không còn là phi chiến địa nữa. Trận quyết chiến chiến lược khởi nổ từ chiến thắng Ngọc Hồi cho đến Đống Đa vào mùa Xuân Kỷ Dậu (1789) đã kết thúc trận thần tốc đại phá quân Thanh, để lại một hình ảnh hùng tráng đầy thi vị: Anh hùng Quang Trung-Nguyễn Huệ khoác áo vải, dưới cờ đào còn vương mùi thuốc súng, cưỡi trên lưng voi, cùng đại quân Tây Sơn tiến vào giải phóng Thăng Long…

Rồi những trận đánh dữ dội với sức mạnh của hỏa khí Tây phương, nay còn lưu dấu trên mặt thành Cửa Bắc khiến Hà Nội hai lần thất thủ và hai vị tổng đốc đều hy sinh lẫm liệt cách nhau không đầy một thập kỷ… Và một trận chiến dữ dội kéo dài tới 60 ngày đêm giành giật từng con đường góc phố của Thủ đô giữa những kẻ chiếm đóng không chịu buông bỏ thuộc địa với những con người mới trở thành công dân của một nước Việt Nam độc lập mang tinh thần “Cảm tử để Tổ quốc quyết sinh”…

Và trận chiến cuối cùng cách đây gần 38 năm. Đó là một kỳ tích mà chỉ có cách định danh bằng sự so sánh “Điện Biên Phủ trên không” mới nói được hết tầm mức của sự kiện. Nếu 9 năm làm một Điện Biên trên chiến trường Tây Bắc giành toàn thắng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thì cũng gần bằng một thời gian tương tự, cuộc đương đầu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ đã làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” với kỳ tích mà cho đến nay chưa một lần lặp lại ở bất kỳ đâu ngoài Việt Nam cảnh những chiếc máy bay chiến lược B52 bị bắn hạ. Và đúng với lời tiên đoán của Bác Hồ, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sẽ có trận quyết chiến trên bầu trời Hà Nội. Chính “Điện Biên Phủ trên không” đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt sự có mặt tại chiến trường Việt Nam.

Nhưng chiến tranh rồi sẽ qua đi. So với bề dài của lịch sử, chiến tranh chỉ là khoảnh khắc. Có lẽ vì thế mà dấu tích của chiến tranh dễ bị phai lạt cùng thời gian và trong tâm thức con người?

Cả cuộc kháng chiến chống Tống của triều Lý chỉ còn để lại bài “thơ thần” vang trên sông Như Nguyệt “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”… Cả ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông ngoài vài áng văn chương tựa “Đoạt sáo Chương Dương độ…” thì may mắn còn dấu tích một bãi cọc Bạch Đằng từng 3 lần chồng chất chiến công: Ngô Quyền chống quân Nam Hán, Lê Đại Hành chống Tống và Trần Hưng Đạo nhấn chìm giặc Nguyên-Mông. Cả một chiến dịch thần tốc của Quang Trung nay chỉ còn lại một trong số 13 gò đất là mộ chôn xác giặc. Bước vào các bảo tàng ở nước ta dễ cảm thấy những khoảng trống lớn không hiện vật, không chứng tích tương xứng với tầm vóc vẻ vang được ghi trong sử sách… Đi khắp các bảo tàng trong cả nước, hình như chỉ có Bảo tàng Đồng Nai là giữ được một cái mũ giáp của người xưa!?

Phải nói rằng, ở nước ta di vật của chiến tranh “biến” nhanh một cách khủng khiếp. Biết bao nhiêu súng đạn, xe tăng đại bác, máy bay ngổn ngang một thời đều thành ra chè chai, đồng nát. Cả một hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra hoành tráng là thế, chẳng mấy chốc biến thành linh kiện và kết thành mành mành kết từ dây điện hay những vật gia dụng làm lưu niệm. Các bãi pháo thì biến thành khu dân cư, các sân bay dã chiến chỉ một thoáng là đường băng rải thép chỉ còn trơ nền đất v.v.. Cả một tòa bảo tàng chứng tích chiến tranh quý giá ở thành phố Đà Nẵng một thời chỉ qua “một dự án treo” là bị xóa sổ v.v...

Với một chiến tích hoành tráng cách đây mới 38 năm, có thể nói là thuộc “đẳng cấp quốc tế” vì chưa đâu hạ nổi một chiếc B52 nay đã thấy lo là liệu còn giữ được bao nhiêu lâu nữa. Cái tên đặt cho một con đường “Chiến thắng B52” gắn với không gian lịch sử của lực lượng phòng không - không quân anh hùng nay cũng đã bị thay thế. Ngày xưa nhiều xác B52 quá phải “nhốt” trong Vườn Bách Thảo, nay tuy còn ở mấy bảo tàng lớn nhưng phơi nắng phơi gió ngoài trời đầy những chất ô nhiễm mà không có nhiều kinh phí bảo quản thì được mấy nả mà không tiêu tan? Hình tượng xác máy bay rơi xuống hồ Hữu Tiệp giữa làng hoa Ngọc Hà đúng là thơ mộng nhưng lại vô cùng trái khoáy với khoa học bảo tồn, ngâm dưới nước liệu mấy đời người được chiêm ngưỡng!?

Bên xác máy bay địch. Ảnh tư liệu

Đội ngũ những người duy nhất trên thế giới hạ gục B52 bằng máy bay hay tên lửa sẽ thưa dần mà ký ức của họ chưa phải đã được khai thác hết… Tất cả dự báo trước là một ngày không xa, chỉ dăm bảy thế hệ nữa không chừng lại giống như trận đánh thần tốc của thời Tây Sơn cũng chỉ còn lại một cái gò và những địa danh liên quan đến những điều được viết trong sử sách?! Ấy vậy mà chưa chắc đã bằng. Vì Tây Sơn còn có Ngày Giỗ trận vào mỗi Mồng 5 Tết Âm lịch.

Tôi cứ ao ước và hình dung rằng trong mỗi năm hãy chọn lấy một ngày. Ngày ấy có thể là ngày đầu hay ngày cuối hoặc 1 trong chuỗi 12 ngày đêm đã diễn ra trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972. Trong ngày ấy, hãy dành lấy một vài phút. Vào vài phút ấy, tại những địa điểm gắn bó với chiến tích năm xưa, người ta hạ ánh sáng tối đi một chút như ánh đèn phòng không năm xưa, người ta cho nổi lên một hồi còi và những âm thanh quen thuộc của năm xưa “Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà Nội… (rồi) máy bay địch đã bay xa”, cùng những lời cảnh báo, lời cổ vũ, những bài hát của một thời đã qua. Những ai có ký ức sẽ hồi tưởng, mọi người sẽ tưởng nhớ đến những người đã chết vì bom đạn và tự hào về chiến công giữa ánh pháo hoa rực sáng gợi lại những đường bay của “Rồng lửa Thăng Long” và hệ thống phòng không thần kỳ của Hà Nội từng được thế giới thán phục…

Chỉ một vài phút trong một năm thôi, cũng có thể bảo tồn mãi mãi… như bao đời nay ta được dự Hội Gióng, hay được Giỗ trận Đống Đa. Đấy là sức mạnh của lễ hội, của một loại hình văn hóa phi vật thể mà chúng ta ít quan tâm.

Có thể nói bản chất của Hòa bình và Phát triển là những mục tiêu mà các thế hệ đó phải phấn đấu, đôi khi trả giá bằng máu. Câu mở đầu trong văn kiện lịch sử nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến” (19-12-1946) có thể coi như một tổng kết lịch sử về bản chất của dân tộc chúng ta mà Hà Nội là biểu tượng: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới... Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Ý niệm đẹp đẽ về một “Thăng Long phi chiến địa” phải được hiểu sâu sắc bởi một lịch sử hào hùng và đáng tự hào như vậy. Đó cũng chính là nền tảng cho một sự phát triển bền vững của Thủ đô chúng ta, biểu tượng của sức mạnh hội tụ và lan tỏa những ý chí của cả dân tộc. Hòa bình và Phát triển chính là nỗ lực của chúng ta thực hiện mong ước giữ vững một truyền thống ngàn năm.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn