QUÀ TẶNG MỪNG XUÂN
Hai mùa xuân 1968-1969, tôi là chiến sĩ lái xe của Đại đội vận tải Ba Vì thuộc Trường lái xe, Cục Hậu cần, Quân khu Tây Bắc, làm nhiệm vụ vận chuyển sang chiến trường bên nước bạn Lào. Kỷ niệm với tôi là những món quà mừng xuân thật ý nghĩa bên đồng đội.
Đầu năm 1968, tôi tham gia Chiến dịch Quyết Thắng (còn gọi là Chiến dịch Nậm Bạc) ở Nậm Bạc, Thượng Lào trong đội hình Đại đội vận tải Ba Vì. Chúng tôi hành quân ròng rã nửa tháng, ngày đi, đêm nghỉ trên những con đường mòn, phần lớn là đường mới mở để giữ bí mật. Nhiều đoạn đèo cao dốc đứng, nhìn lên thấy đoàn quân đi trước như đi trong làn hơi bay quanh, hòa quyện con người với cây cối, núi rừng, lúc ẩn lúc hiện giữa biển hơi sương đặc quánh.
Địa điểm tập kết của đơn vị tôi là bản Mường Buồm (Nậm Bạc), bạt ngàn những cây cam quý lâu năm. Tập kết hôm trước, hôm sau chúng tôi bắt tay ngay vào thực hiện nhiệm vụ. Được khoảng 10 ngày thì đến Tết Nguyên đán. Vì không phải trực tiếp chiến đấu nên đơn vị chúng tôi được nghỉ mồng Một. Sáng sớm hôm ấy, Chính trị viên Hối đứng trên nhà sàn mừng tuổi mỗi chiến sĩ một điếu thuốc lá đem từ trong nước sang.
Ai đã từng trải nghiệm cảnh chuyền tay nhau hút chung một điếu thuốc mới thấy giá trị của điếu thuốc “mừng tuổi” này như thế nào. Nhất là khi vừa trải qua 15 ngày trèo đèo, lội suối, vượt dốc, băng rừng, bộ đội thiếu thốn trăm bề, đến ngọn rau xanh còn thèm, nói gì đến thuốc lá! Điếu thuốc mang nặng tình cảm cán-binh ngày ấy, đến giờ vẫn cứ lưu luyến trong ký ức của tôi!
|
Minh họa: LÊ HẢI |
Trong những ngày giáp Tết Kỷ Dậu 1969, Tiểu đoàn 44 cao xạ thuộc Quân khu Tây Bắc được lệnh kéo pháo từ Hà Tây vào Thanh Hóa, rồi sang Lào bắn máy bay Mỹ. Còn tôi thì làm nhiệm vụ lái xe chở tổ đài 15W trong đội hình Tiểu đoàn. Tôi phải tập trung “đi ga” thật ổn định và căn đường thật chuẩn, nhất là khi qua cầu, kẻo để bánh xe trèo lên đường ray tàu hỏa hoặc xe trục trặc giữa cầu mà máy bay Mỹ kéo đến đánh phá thì rất nguy hiểm. Cầu Hàm Rồng trong chiến tranh phá hoại trông như một khung sắt nham nhở vì mảnh bom. Đầu cầu bờ Nam có hai khẩu hiệu “Quyết thắng”, “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” chữ to, màu trắng, sừng sững bên sườn hai quả núi như tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho cả người đang chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc lẫn người ra tiền tuyến đi giải phóng miền Nam.
Qua khỏi cầu là đến khu Nam Ngạn. Nhiều nhà tường bị đổ, mái xiêu, có chỗ nhìn trắng như vôi. Vậy mà vẫn có một trung đội nữ dân quân kiên cường bám trụ, với những cái tên như Trung đội trưởng Nguyễn Thị Hằng, đội viên Ngô Thị Tuyển-người một mình vác trên vai hai hòm đạn nặng tới cả trăm cân...
Đúng đêm Ba mươi Tết Kỷ Dậu 1969, Tiểu đoàn 44 đưa pháo qua Cửa khẩu Na Mèo, vượt đèo Ba Bông, Na Khao, Sầm Nưa (nay thuộc tỉnh Houaphanh, Lào). Phải kéo pháo vượt đèo vào ban đêm, trong điều kiện hạn chế ánh sáng (chỉ bật đèn gầm) để tránh bị máy bay Mỹ phát hiện là công việc đầy khó khăn và nguy hiểm. Tôi đưa tổ đài 15W đến địa điểm tập kết an toàn thì có lệnh của thủ trưởng Tiểu đoàn: Chở móc kéo dự phòng cùng đồng đội quay lại nơi xảy ra sự cố khiến một xe kéo pháo đang nằm chờ sửa chữa.
Trời đã về khuya. Tôi cũng chẳng còn tâm trí đâu để nghĩ đến chuyện Tết nhất mà phải căng mắt ra để lái xe lên dốc, xuống đèo giữa núi rừng nơi nước bạn... Tôi chỉ mong sao sự cố sớm được khắc phục để còn quay về địa điểm tập kết cùng đơn vị. Lúc xong việc, trở về thì mọi người đã ngủ say, chỉ còn lại bộ phận trực gác. Bữa cơm mồng Một Tết năm ấy, bộ đội vẫn được ăn giò nạc. Cánh lính pháo đã linh hoạt lấy mũ sắt để giã giò, còn lợn thì xe hậu cần chở từ trong nước sang. Sau hai chiến dịch, tôi được Bộ tư lệnh Quân khu Tây Bắc tặng bằng khen.
NGUYỄN VĂN CỰ




